Vĩ mô

Sau 40 năm đổi mới, thu nhập người Việt chạm mốc 5.000 USD: Còn bao xa để Việt Nam trở thành nước giàu?

Mai Anh • 16/10/2026 - 15:48

Sau 40 năm đổi mới, thu nhập người Việt tiệm cận 5.000 USD, nhưng Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức trên hành trình trở thành nước giàu.

kinh-te-tu-nhan-1-1766984252575977450807.png
Sau 40 năm đổi mới, thu nhập người Việt chạm mốc 5.000 USD: Còn bao xa để Việt Nam trở thành nước giàu?

Năm 2025, Việt Nam đạt quy mô nền kinh tế khoảng 510 tỷ USD, thu nhập quốc dân bình quân đầu người vượt 4.950 USD, tiệm cận mốc 5.000 USD. Đây là thành quả sau gần 40 năm đổi mới, nhưng để trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam vẫn phải thu hẹp khoảng cách khoảng 9.000 USD/người.

Chia sẻ trong talkshow "Việt Nam còn thiếu 9.000 USD/người để thành nước giàu?", TS. Bùi Ngọc Sơn, nguyên Trưởng phòng Kinh tế quốc tế thuộc Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, yêu cầu cấp thiết hiện nay là thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng, chuyển từ dựa vào lao động giá rẻ, tài nguyên và vốn sang năng suất, khoa học công nghệ và thể chế kiến tạo.

Sau gần 40 năm Đổi mới, thu nhập người Việt tăng thế nào?

Nhìn lại chặng đường từ năm 1945, TS. Bùi Ngọc Sơn khái quát lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam qua bốn giai đoạn.

Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ kháng chiến kiến quốc, vừa xây dựng chính quyền mới vừa kháng chiến chống thực dân Pháp. Giai đoạn 1954-1986 gắn với mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, được áp dụng trên cả nước sau năm 1975. Theo ông, cơ chế này cùng tình trạng “ngăn sông cấm chợ” và sự o ép hành chính đã kìm hãm lực lượng sản xuất, khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng thiếu hụt lương thực.

Bước ngoặt diễn ra tại Đại hội VI của Đảng vào tháng 12/1986, mở ra thời kỳ đổi mới, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý và mở cửa hội nhập quốc tế. Nhờ giải phóng nội lực và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 170 USD năm 1993 lên hơn 1.000 USD năm 2008, đạt 3.500 USD năm 2020 và tiệm cận 5.000 USD năm 2025. Quy mô GDP tăng mạnh so với năm 1986, đưa Việt Nam vào nhóm 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Giai đoạn thứ tư bắt đầu từ năm 2026, gắn với Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới tổng thể mô hình phát triển đất nước theo hướng tự cường, sáng tạo, nhân văn và bền vững.

Tuy nhiên, TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng mức thu nhập người Việt khoảng 5.000 USD/người mới chỉ giúp Việt Nam vừa chạm ngưỡng thu nhập trung bình cao. Việt Nam đạt mốc này khi dân số đã tương đối nhiều tuổi, đồng nghĩa dư địa từ thời kỳ dân số vàng không còn kéo dài.

Sau 40 năm đổi mới, thu nhập người Việt chạm mốc 5.000 USD: Còn bao xa để Việt Nam trở thành nước giàu?
TS. Bùi Ngọc Sơn khái quát lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam qua bốn giai đoạn

Theo ông, “bẫy thu nhập trung bình” là tình trạng một nền kinh tế cạn dần các động lực tăng trưởng cũ nhưng chưa đủ khả năng chuyển sang nấc thang công nghệ cao hơn. Trong bốn thập niên qua, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn tín dụng, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp ở phân khúc thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi những lợi thế về đất đai và lao động giá rẻ dần tới giới hạn, trong khi chi phí tăng, dân số già hóa và cạnh tranh quốc tế gay gắt hơn, Việt Nam cần tạo ra động lực tăng trưởng mới từ năng suất và công nghệ. Nếu không, nền kinh tế có nguy cơ đình trệ, mất dần vị thế và mắc kẹt ở mức thu nhập hiện tại.

Vì sao Thái Lan, Brazil và Argentina vẫn mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình?

Để làm rõ nguy cơ này, TS. Bùi Ngọc Sơn dẫn chứng kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế.

Brazil và Argentina từng giàu có nhờ tài nguyên nông nghiệp và khoáng sản nhưng rơi vào bẫy thu nhập trung bình trong nhiều thập kỷ. Theo phân tích của ông, một nguyên nhân là chính sách phân phối lợi nhuận từ tài nguyên cho tiêu dùng thay vì tập trung nguồn lực phát triển công nghiệp và công nghệ hiện đại.

Tại Argentina, chính sách thay thế nhập khẩu và khép kín nền kinh tế làm suy giảm sức cạnh tranh, góp phần dẫn đến các cuộc khủng hoảng nợ và vỡ nợ liên tiếp. Tổng thống Javier Milei hiện tiến hành cải cách sâu rộng nhằm thay đổi tư duy điều hành, tăng vai trò của thị trường và khu vực tư nhân.

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, theo TS. Bùi Ngọc Sơn, việc Tổng thống Recep Tayyip Erdogan can thiệp vào chính sách tiền tệ, ép hạ lãi suất đã góp phần gây ra lạm phát cao. Việc dồn vốn vào các dự án bất động sản xa hoa thay vì phát triển công nghiệp mới cũng khiến nền kinh tế gặp khó khăn trong chuyển đổi.

Tại Đông Nam Á, Thái Lan chưa bứt phá thành nước phát triển. Ông dẫn lại nhận định của giới học giả Thái Lan rằng quốc gia này chưa xây dựng được đội ngũ nhà khoa học, nhà công nghệ đủ mạnh và chưa sở hữu các sản phẩm công nghệ mang thương hiệu riêng.

Trong khi đó, Trung Quốc đã đạt GDP bình quân đầu người khoảng 12.000 USD, đồng thời có nhiều thành tựu về xe điện, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot. Tuy nhiên, theo ông, việc dồn quá nhiều nguồn lực vào bất động sản và hạ tầng trong khoảng 15 năm đã làm chậm quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế công nghệ tự chủ, đồng thời tạo ra lượng nợ lớn cản trở tăng trưởng.

Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Bùi Ngọc Sơn phân biệt năm mô hình phát triển quốc gia phổ biến.

Thứ nhất là mô hình thị trường tự do Anglo-Saxon tại Mỹ, Anh, Australia và Canada, trong đó thị trường và khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo, còn Nhà nước tập trung vào những lĩnh vực công cộng mà tư nhân không đảm nhiệm.

Thứ hai là mô hình thị trường phúc lợi ở Bắc Âu và Tây Âu, kết hợp cạnh tranh thị trường với hệ thống an sinh xã hội rộng lớn và thuế cao. Ông cho rằng những quy định cứng nhắc, như quy định tuần làm việc 35 giờ tại Pháp và các hạn chế về sa thải lao động, có thể làm tăng chi phí, giảm tính linh hoạt của doanh nghiệp và góp phần khiến kinh tế châu Âu tăng trưởng chậm hơn Mỹ.

Thứ ba là mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore, trong đó Nhà nước định hướng chiến lược dài hạn, hỗ trợ khu vực tư nhân.

Thứ tư là mô hình kinh tế thị trường xã hội tại Đức và Áo. Thứ năm là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc, với vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.

TS. Bùi Ngọc Sơn cũng lưu ý cần phân biệt mô hình phát triển quốc gia, vốn dựa trên triết lý phát triển tổng thể, với mô hình tăng trưởng kinh tế, tập trung vào những nguồn lực tạo ra tăng trưởng như vốn, lao động và công nghệ.

Việt Nam cần làm gì để thu hẹp khoảng cách 9.000 USD/người, trở thành nước giàu vào năm 2045?

Từ kinh nghiệm Đông Á, ông nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân hình thành các tập đoàn công nghiệp mũi nhọn. Tại Nhật Bản, Bộ Công nghiệp (MITI) từng chủ động thành lập viện nghiên cứu, mua bằng sáng chế bán dẫn từ nước ngoài và hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp điện tử như Toshiba, Panasonic phát triển công nghệ chip, sau đó để doanh nghiệp tự cạnh tranh trên thị trường.

Tại Hàn Quốc, trong giai đoạn 1970-1996, quốc gia này vươn lên thành nước phát triển, đạt GDP bình quân đầu người 9.000 USD và làm chủ 50 công nghệ cốt lõi trong các ngành đóng tàu, điện tử, ô tô, dệt may và hóa chất. Theo ông, thành quả này gắn với chính sách hỗ trợ có trọng tâm của Nhà nước dành cho các tập đoàn Chaebol.

Bài học đối với Việt Nam, theo TS. Bùi Ngọc Sơn, là tôn trọng quy luật thị trường, lấy kinh tế tư nhân làm nền tảng tạo ra của cải và xây dựng thể chế khuyến khích tinh thần kinh doanh.

Đối với Việt Nam, kinh tế tư nhân bao gồm người dân và doanh nghiệp trong nước. Khi Nhà nước xây dựng thể chế thông thoáng, tạo điều kiện để khu vực này làm giàu, nền kinh tế có thể tích lũy công nghệ, mở rộng quy mô GDP và tạo nguồn thu thuế bền vững.

Để thu hẹp khoảng cách thu nhập khoảng 9.000 USD/người và hướng tới mục tiêu năm 2045, TS. Bùi Ngọc Sơn đề xuất Việt Nam triển khai đồng bộ chương trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Trước hết, chính sách thu hút FDI cần chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lựa chọn có trọng tâm, ưu tiên các dự án công nghệ cao và có cam kết chuyển giao công nghệ.

Thứ hai, Nhà nước cần sử dụng các chính sách ưu đãi thuế, tài chính và tín dụng để khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư vào những ngành công nghiệp công nghệ cao.

Thứ ba, cần cải tổ sâu rộng hệ thống giáo dục, đào tạo và các viện nghiên cứu để phát triển đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và nhà công nghệ có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, AI, robot phát triển nhanh và xu hướng tăng trưởng xanh lan rộng, chủ động chuyển đổi công nghệ là yêu cầu sống còn để Việt Nam duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu khi lợi thế lao động thủ công dần mất đi.

Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, chặng đường đến năm 2045 không chỉ phụ thuộc vào mức độ tham vọng của mục tiêu mà còn ở tốc độ chuyển hóa nguồn lực thành năng lực cạnh tranh công nghệ.

Theo Kiến thức đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/sau-40-nam-doi-moi-thu-nhap-nguoi-viet-cham-moc-5-000-usd-con-bao-xa-de-viet-nam-tro-thanh-nuoc-giau-1470908.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Sau 40 năm đổi mới, thu nhập người Việt chạm mốc 5.000 USD: Còn bao xa để Việt Nam trở thành nước giàu?
    POWERED BY ONECMS & INTECH