Tăng trưởng GDP 10% nhưng tín dụng đã gần 20 triệu tỷ đồng: TS. Phạm Xuân Hoè cảnh báo rủi ro lớn
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đang tạo dư địa để tín dụng mở rộng mạnh mẽ, song theo TS. Phạm Xuân Hoè, phía sau quy mô dư nợ gần 20 triệu tỷ đồng là hàng loạt tín hiệu đáng lưu ý của hệ thống tài chính.
Nhiều chỉ số an toàn tài chính đồng loạt phát tín hiệu
Tại Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển”, ngày 9/7, đánh giá về diễn biến thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm 2026, TS. Phạm Xuân Hoè, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng Nhà nước, cho biết tín dụng đang tăng với tốc độ rất cao nhằm đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tính đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã đạt khoảng 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với đầu năm và tăng khoảng 18,87% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, theo ông, tốc độ tăng tín dụng đang bỏ xa khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng.
Đến cuối tháng 6, tổng tiền gửi huy động mới đạt khoảng 17 triệu tỷ đồng, chỉ tăng khoảng 3% so với đầu năm. Điều này khiến khoảng cách giữa vốn huy động và vốn cho vay tiếp tục nới rộng.
Theo TS. Phạm Xuân Hoè, cùng với đà tăng của tín dụng, nhiều chỉ số an toàn của hệ thống ngân hàng cũng đang chịu áp lực. Ông dẫn số liệu cho thấy tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đã lên khoảng 115%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống dưới 80%.
Đáng chú ý hơn, khoảng chênh lệch giữa nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu cho vay trung, dài hạn đã lên tới khoảng 5,9 triệu tỷ đồng.
Theo chuyên gia, đây là dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng đang phải sử dụng lượng lớn vốn huy động ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
"Khoảng lệch kỳ hạn càng lớn thì áp lực thanh khoản đối với hệ thống càng gia tăng khi thị trường xuất hiện biến động", ông nhận định.

Chính sách nới tín dụng giúp hỗ trợ tăng trưởng nhưng cũng làm rủi ro tăng lên
TS. Phạm Xuân Hoè đánh giá các chính sách điều hành thời gian qua đã góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho nền kinh tế. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh nhiều quy định theo hướng mở rộng dư địa tín dụng như thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn lên 40%, ưu tiên tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nhà ở xã hội, khu công nghiệp...
Theo ông, các chính sách này giúp bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ mặt bằng lãi suất và tạo điều kiện để các dự án trọng điểm tiếp cận vốn.
Tuy nhiên, việc mở rộng dư địa tín dụng cũng đồng nghĩa với việc rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản sẽ lớn hơn nếu tốc độ huy động vốn không theo kịp.
Theo TS. Phạm Xuân Hoè, vấn đề lớn nhất hiện nay không nằm ở quy mô tín dụng, mà ở cấu trúc của hệ thống tài chính. Ông cho biết khoảng 80% nguồn vốn huy động của các ngân hàng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi 47% dư nợ lại là các khoản vay trung và dài hạn.
Điều này khiến các ngân hàng phải thực hiện chức năng tài trợ vốn dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn - một đặc điểm vốn không bền vững nếu kéo dài.
Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn chưa phát huy vai trò tương xứng. Theo số liệu được TS. Hoè đưa ra, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện chỉ khoảng 1,39 triệu tỷ đồng, còn vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng 10,6 triệu tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với quy mô tín dụng ngân hàng.
"Ngân hàng đang phải gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế", ông nhận định.
Đặt ra 4 câu hỏi lớn cho mục tiêu tăng trưởng 10%
Theo TS. Phạm Xuân Hoè, nếu Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%, cần sớm trả lời bốn vấn đề cốt lõi.
Thứ nhất, liệu hệ thống ngân hàng có đủ khả năng huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng ngày càng lớn hay không. Thứ hai, việc Kho bạc Nhà nước huy động vốn nhưng giải ngân đầu tư công chưa tương xứng có đang làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế.
Thứ ba, cần làm gì để phát triển mạnh hơn các định chế tài chính phi ngân hàng nhằm chia sẻ vai trò cung ứng vốn. Cuối cùng, phải tăng cường giám sát dòng vốn sau giải ngân để bảo đảm tín dụng đi đúng khu vực sản xuất - kinh doanh, hạn chế rủi ro phát sinh trong tương lai.
Theo TS. Phạm Xuân Hoè, tăng trưởng tín dụng là cần thiết để hỗ trợ nền kinh tế, song không thể chỉ nhìn vào quy mô tín dụng mà bỏ qua chất lượng và tính bền vững của hệ thống tài chính.
Ông cho rằng Việt Nam cần đẩy nhanh phát triển thị trường vốn, mở rộng vai trò của các định chế tài chính phi ngân hàng, thúc đẩy các quỹ đầu tư, quỹ bảo lãnh tín dụng và tiếp tục xử lý nợ xấu.
"Chỉ khi hình thành được một hệ sinh thái tài chính cân bằng, trong đó ngân hàng, thị trường vốn và các định chế tài chính cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn, nền kinh tế mới có thể duy trì tăng trưởng cao mà vẫn bảo đảm an toàn hệ thống", TS. Phạm Xuân Hoè nhấn mạnh.