TS. LS Đặng Văn Cường: Bị hại cần làm gì để bảo vệ quyền lợi, thu hồi tài sản trong vụ 'sở hữu kỳ nghỉ'?
Theo LS Cường, những người bị hại cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ chứng minh việc mua sản phẩm, đặt cọc, góp vốn hoặc thực hiện các giao dịch liên quan, đồng thời làm đơn trình báo gửi cơ quan công an để được xem xét, giải quyết theo quy định.
493 bị hại, hơn 181 tỷ đồng bị chiếm đoạt
Ngày 17/06/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an TP. Hà Nội cho biết đã khởi tố 21 vụ án và khởi tố 187 bị can liên quan đến hành vi lừa đảo trong hoạt động mua bán kỳ nghỉ du lịch. Kết quả điều tra ban đầu xác định các đối tượng đã chiếm đoạt tổng cộng hơn 181,4 tỷ đồng của 493 bị hại thông qua hình thức bán kỳ nghỉ và nhận tiền đặt cọc chuyển nhượng kỳ nghỉ.
Trong quá trình điều tra, Công an TP. Hà Nội đã tiến hành khám xét nơi ở và nơi làm việc của các đối tượng liên quan. Lực lượng chức năng thu giữ hơn 16,6 tỷ đồng tiền mặt, phong tỏa gần 59,8 tỷ đồng trong các tài khoản ngân hàng, đồng thời tạm giữ 7 ô tô, 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 3 sổ tiết kiệm có tổng giá trị khoảng 12 tỷ đồng.


Theo tài liệu của cơ quan điều tra, các đối tượng đã lợi dụng mô hình kinh doanh sở hữu kỳ nghỉ du lịch để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn phổ biến là thành lập các công ty kinh doanh sản phẩm sở hữu kỳ nghỉ, sau đó đánh vào tâm lý thích nhận quà tặng và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân.
Các công ty này thường gọi điện mời khách hàng tham dự hội nghị, hội thảo với lời hứa tặng voucher du lịch miễn phí tại một số khu nghỉ dưỡng hoặc khách sạn 4 sao. Khi mời tham gia chương trình, các đối tượng cam kết khách hàng không phải mua bất kỳ sản phẩm nào, không cần mang theo tiền mặt mà chỉ cần căn cước công dân để xác nhận thông tin cá nhân.
Sau khi đến theo lịch hẹn, khách hàng được nhân viên tư vấn giới thiệu các gói sản phẩm sở hữu kỳ nghỉ du lịch với giá trị từ khoảng 200 triệu đồng đến 900 triệu đồng, tùy thuộc vào thời lượng nghỉ dưỡng và thời hạn hợp đồng, kéo dài từ 5 đến 40 năm.
Đáng chú ý, phần lớn nạn nhân trong vụ án là người cao tuổi. Nhiều trường hợp đã ngoài 70 hoặc 80 tuổi nhưng vẫn bị thuyết phục ký kết các hợp đồng có giá trị từ hàng trăm triệu đồng đến hàng tỷ đồng, thậm chí lên tới hàng chục tỷ đồng. Theo cơ quan điều tra, không ít người ban đầu chỉ tham gia một hợp đồng trị giá vài trăm triệu đồng, sau đó tiếp tục được tư vấn nâng hạng gói dịch vụ, mua thêm sản phẩm hoặc đóng thêm tiền với lý do xử lý, chuyển đổi hoặc khắc phục những hợp đồng đã ký trước đó.

Một số bị hại đã sử dụng toàn bộ khoản tiền tiết kiệm dành cho tuổi già, vay mượn từ người thân hoặc cầm cố sổ lương hưu để tiếp tục nộp tiền theo yêu cầu của các đối tượng.
Trong quá trình điều tra mở rộng vụ án, Công an TP. Hà Nội đã phát đi thông báo đề nghị các bị hại liên hệ, cung cấp thông tin và tài liệu phục vụ công tác điều tra. Cơ quan chức năng cũng khuyến nghị những người từng tham gia các giao dịch liên quan đến sản phẩm sở hữu kỳ nghỉ chủ động làm việc với cơ quan điều tra để được xem xét, xác định tư cách tham gia tố tụng theo quy định.
Người bị hại cần làm gì để lấy lại tiền?
Tư vấn về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại, TS. LS Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) cho rằng, những người đã bỏ tiền mua hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, hợp đồng bán kỳ nghỉ hoặc tham gia các giao dịch như đặt cọc, góp vốn, thanh toán phí nâng hạn mức, nâng gói nghỉ dưỡng cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan.
"Các tài liệu cần cung cấp có thể bao gồm hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng góp vốn, phụ lục hợp đồng, thỏa thuận nâng hạn mức, nâng gói nghỉ dưỡng, phiếu thu, chứng từ thanh toán, thông tin của công ty kinh doanh kỳ nghỉ, thông tin của người môi giới và các tài liệu khác có liên quan", TS. LS Cường cho biết.
Theo luật sư, bên cạnh việc chuẩn bị hồ sơ, người tham gia các giao dịch cần làm đơn trình báo, trong đó nêu rõ quá trình tham gia, việc ký kết hợp đồng, phương thức thanh toán cũng như các nội dung quảng cáo, giới thiệu hoặc cam kết đã được đưa ra trước thời điểm khách hàng quyết định nộp tiền.
"Nếu cơ quan điều tra xác định khách hàng đã bị lừa dối, các đối tượng bán kỳ nghỉ đã sử dụng thủ đoạn gian dối để khiến khách hàng ký hợp đồng nhằm chiếm đoạt tài sản thì những người này sẽ được xác định là bị hại và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người bị hại theo quy định của pháp luật", ông Cường phân tích.

Dẫn quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự, TS. LS. Đặng Văn Cường cho biết: "Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra".
Theo Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp, khi được xác định là bị hại trong vụ án, người dân sẽ được thực hiện nhiều quyền tố tụng quan trọng như cung cấp chứng cứ, tài liệu; đề nghị giám định, định giá tài sản; được thông báo kết quả điều tra; tham gia phiên tòa; yêu cầu bồi thường thiệt hại; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
TS. LS Đặng Văn Cường cho rằng: "Hiện nay cơ quan điều tra đã thu giữ được một lượng tài sản rất lớn, đồng thời tiếp tục phong tỏa, ngăn chặn các tài sản do phạm tội mà có và bắt giữ những đối tượng liên quan. Vì vậy, sự phối hợp của các nạn nhân sẽ góp phần giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, đầy đủ và triệt để hơn, bảo đảm quyền lợi của người bị hại cũng như nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản để hoàn trả cho các nạn nhân theo quy định của pháp luật".
Luật sư cũng lưu ý, trong trường hợp các bị can hoặc người thân của bị can tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và hoàn trả tiền cho khách hàng, người bị hại có thể nhận lại tài sản ngay trong quá trình giải quyết vụ án.
"Trường hợp chưa được hoàn trả tài sản từ các bị can, người thân của bị can hoặc từ doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo, những người mua kỳ nghỉ cần liên hệ với cơ quan tiến hành tố tụng hoặc nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp chứng cứ, trình bày sự việc và đề nghị được tham gia vụ án với tư cách bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật", TS. LS Đặng Văn Cường nhấn mạnh.
Đề cập đến khả năng thu hồi tiền của các khách hàng đã tham gia mua sở hữu kỳ nghỉ, TS. LS. Đặng Văn Cường cho biết, về nguyên tắc, khoản tiền đã thanh toán cho doanh nghiệp theo một giao dịch hợp pháp sẽ không thể đòi lại, trừ trường hợp các bên tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định hoặc cơ quan có thẩm quyền xác định hợp đồng có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Theo ông Cường, trong thực tế vẫn có một số trường hợp người mua sở hữu kỳ nghỉ có cơ hội thu hồi lại số tiền đã nộp.
Trường hợp thứ nhất là các bên đạt được thỏa thuận thanh lý hợp đồng. Nếu hợp đồng chưa bị cơ quan chức năng xác định là trái pháp luật, khách hàng có thể trực tiếp làm việc với đơn vị môi giới hoặc doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng để đề nghị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Trong bối cảnh doanh nghiệp đang bị điều tra hoặc bị phát hiện có sai phạm, nhằm khắc phục hậu quả và giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, doanh nghiệp có thể đồng ý thanh lý hợp đồng và hoàn trả tiền cho khách hàng. Khi đó, người mua có thể nhận lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp mà không phải chờ kết quả giải quyết của vụ án hình sự.
Tuy nhiên, luật sư lưu ý khả năng này không áp dụng với mọi trường hợp, nhất là khi các đối tượng liên quan không hợp tác, cố tình né tránh trách nhiệm, bỏ trốn, bị tạm giam hoặc doanh nghiệp đã ngừng hoạt động.
Trường hợp thứ hai là khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo ông Cường, nếu cơ quan tiến hành tố tụng chưa đủ căn cứ xác định hành vi lừa đảo hoặc cho rằng vụ việc không có dấu hiệu tội phạm, nhưng có cơ sở cho thấy hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nhầm lẫn, đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện hoặc người ký kết không có thẩm quyền, khách hàng có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Trong trường hợp tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu do dự án chưa đủ điều kiện khai thác, chưa đủ điều kiện huy động vốn, đối tượng hợp đồng không thể thực hiện hoặc người tham gia giao kết hợp đồng bị lừa dối, nhầm lẫn, tòa án sẽ xem xét giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Khi đó, doanh nghiệp có thể bị buộc hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận từ khách hàng theo quy định của pháp luật.
