Tuyên án chung thân giám đốc công ty mang tiền của 7.000 khách hàng đi đầu tư chứng khoán rồi thua lỗ
TAND TP. Đà Nẵng xét xử vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty GFDI, tuyên 5 bị cáo mức án tù chung thân vì chiếm đoạt hơn 2.407 tỷ đồng của 7.018 khách hàng.
Ngày 24/9, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty TNHH MTV Tư vấn đầu tư GFDI. Đây là vụ án có quy mô tham gia tố tụng lớn với hơn 8.700 cá nhân, bao gồm hơn 7.100 người bị hại trên phạm vi cả nước.
Do tính chất phức tạp và số lượng người tham gia đông, phiên xét xử được tổ chức kết nối trực tuyến tại ba điểm cầu gồm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Cung thể thao Tiên Sơn và Nhà hát Trưng Vương.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử xác định hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội phạm theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Theo đó, hội đồng xét xử tuyên phạt mức án tù chung thân và phạt bổ sung 100 triệu đồng đối với bị cáo Nguyễn Quang Hoàng, Tổng Giám đốc kiêm đại diện pháp luật của Công ty GFDI. Bốn bị cáo đồng phạm giữ vai trò chủ chốt trong công ty gồm Nguyễn Đỗ Đạt, Giám đốc tài chính; Tô Hồng Trà, Giám đốc Sở giao dịch hội sở; Trần Thị Kiều Trang, Phó Giám đốc Sở giao dịch hội sở, trợ lý và là vợ của Hoàng; Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Phòng Ngân quỹ cùng chịu mức hình phạt tù chung thân. Các bị cáo Đạt và Trà chịu mức phạt bổ sung 70 triệu đồng, các bị cáo Trang và Hạnh chịu mức phạt bổ sung 50 triệu đồng.
Đồng thời, cơ quan xét xử đã ban hành quyết định kê biên hàng loạt tài sản thuộc quyền sở hữu của các bị cáo nhằm phục vụ công tác bồi thường và thi hành án theo quy định của pháp luật.

Theo kết quả điều tra và cáo trạng truy tố, Công ty GFDI đăng ký vốn điều lệ 80 tỷ đồng nhưng thực chất không có nguồn vốn thực tế. Để tạo uy tín và mở rộng mạng lưới hoạt động, Nguyễn Quang Hoàng cùng các thuộc cấp đã thành lập hội sở, trụ sở chính tại thành phố Đà Nẵng và đặt thêm 12 chi nhánh tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Cần Thơ và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trong giai đoạn từ tháng 5/2018 đến tháng 11/2024, Công ty GFDI triển khai huy động vốn thông qua hình thức ký kết hợp đồng vay tài sản với khách hàng. Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Quang Hoàng, hệ thống nhân viên công ty đưa ra các thông tin gian dối về việc dòng tiền sẽ được rót vào các dự án kinh doanh có khả năng sinh lời cao, cam kết mức lãi suất thỏa thuận từ 1,5% đến 3,5%/tháng và bảo đảm khả năng thanh toán đúng hạn.
Song song với đó, các bị cáo áp dụng cơ chế khen thưởng đối với các chi nhánh, nhân viên có doanh số cao và áp dụng hình thức xử lý nội bộ đối với các đơn vị không đạt chỉ tiêu nhằm thúc đẩy việc huy động vốn.
Tuy nhiên, nguồn tiền huy động không được sử dụng vào các phương án kinh doanh như cam kết. Nguyễn Quang Hoàng đã chuyển phần lớn nguồn vốn sang các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế dẫn đến tình trạng thua lỗ nghiêm trọng, phần còn lại được sử dụng để thanh toán tiền gốc và lãi đến hạn cho các hợp đồng trước đó, chi trả chi phí vận hành doanh nghiệp và mua sắm tài sản.
Từ tháng 8/2023, doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính do áp lực rút vốn của khách hàng. Dù nhận thức rõ thực trạng này, các cá nhân giữ chức vụ quản lý tài chính và điều hành gồm Đạt, Hạnh, Trà và Trang vẫn tiếp tục hỗ trợ Hoàng duy trì việc huy động tiền từ khách hàng mới nhằm chi trả cho các nghĩa vụ cũ, từ đó hưởng các khoản thu nhập và chiết khấu kinh doanh. Đến tháng 11/2024, Công ty GFDI mất khả năng thanh toán hoàn toàn.
Cơ quan điều tra kết luận bị cáo Nguyễn Quang Hoàng cùng các đồng phạm đã chiếm đoạt tổng số tiền hơn 2.407 tỷ đồng của 7.018 khách hàng. Trong tổng số 7.543 hợp đồng đã ký kết, có 7.110 khách hàng chưa từng nhận lãi hoặc số tiền nhận về thấp hơn nhiều so với giá trị vốn nộp vào.
Cơ quan tiến hành tố tụng cũng xác định 433 cá nhân nhận số tiền lãi vượt quá vốn đầu tư ban đầu thuộc nhóm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phải chịu trách nhiệm hoàn trả khoản chênh lệch phát sinh để khắc phục hậu quả của vụ án.