Vị Trung tướng từng là cận vệ Bác Hồ, thuộc 34 chiến sĩ đầu tiên của quân đội vừa được Hà Nội đặt tên phố
Đằng sau tên gọi của tuyến phố mới tại phường Dương Nội, Hà Nội là câu chuyện về một cuộc đời binh nghiệp với nhiều dấu mốc đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam ghi dấu nhiều người lính đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trung tướng Vũ Nam Long là một trong những người như thế. Ông từng có mặt trong đội quân 34 chiến sĩ đầu tiên, tham gia bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu lập nước, đồng thời đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy trên các chiến trường quan trọng.
Đầu tháng 10, tên ông được thành phố Hà Nội đặt cho một tuyến phố tại phường Dương Nội như sự tri ân đối với những đóng góp của vị tướng dành trọn cuộc đời cho đất nước.

Tuyến phố Vũ Nam Long dài 1.190m, rộng 32m, được tổ chức gắn biển ngày 8/10/2026, đúng dịp kỷ niệm 105 năm ngày sinh của ông (8/10/1921-8/10/2026). Chia sẻ về sự kiện này với báo chí, ông Đoàn Nam Khoa, con trai trưởng của Trung tướng Vũ Nam Long bày tỏ niềm xúc động và mong muốn tên phố sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu thêm về lịch sử, lòng yêu nước cũng như sự hy sinh của những người đi trước.
Trung tướng Vũ Nam Long tên thật là Đoàn Văn Ưu, sinh ngày 8/10/1921 tại xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (nay là phường Thục Phán), trong một gia đình nghèo ven sông Bằng. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng trong vùng bởi khả năng bơi lội, lặn bắt cá cùng tài bắn súng thiên bẩm.
Theo lời kể của người dân địa phương, ông sở hữu vóc dáng cao ráo, khoảng 1,75m, đôi tay dài, nước da trắng và hàng lông mày rậm. Đặc biệt, khả năng thiện xạ của chàng trai trẻ khiến nhiều người không khỏi thán phục.

Năm 1937, khi mới 16 tuổi, ông đã tham gia hoạt động cách mạng với nhiệm vụ liên lạc cho tổng ủy và xã ủy. Năm 1941, ông được lựa chọn sang Trung Quốc học tập quân sự tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Cũng trong thời gian này, ông mang tên Vũ Nam Long, gắn bó với suốt cuộc đời binh nghiệp sau đó.
Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại Cao Bằng. Ông là một trong 34 chiến sĩ đầu tiên của đội, đảm nhiệm cương vị Chính trị viên Trung đội 2 và Trung đội 4, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông tham gia những trận đánh đầu tiên của lực lượng, trong đó có trận Đồng Mu vào tháng 2/1945.

Tháng 7/1945, ông Vũ Nam Long được giao chỉ huy đội bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tân Trào. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục chỉ huy lực lượng cận vệ đưa Bác về Hà Nội, tham gia bảo vệ Người tại Phú Thượng và ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, nơi Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.
Trong ngày 2/9/1945, ông đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ vòng trong tại Quảng trường Ba Đình khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ ở Nam Bộ, ông chủ động xin vào Nam chiến đấu và được giao làm Chi đội trưởng Chi đội 3 Nam tiến. Trong những ngày hành quân qua miền Trung, ông gặp bà Đào Lệ Đức, một nữ y tá tham gia đoàn quân Nam tiến. Giữa những chặng đường gian nan và khói lửa chiến trường, tình cảm của hai người dần nảy nở.
Tuy nhiên, khi lực lượng Nam tiến bị chia cắt, ông Vũ Nam Long rút ra Bắc, còn bà Đào Lệ Đức trở về Vinh (Nghệ An), khiến hai người mất liên lạc.
Đầu năm 1947, khi biết tin người yêu vẫn còn sống, ông tìm cách đón bà ra chiến khu Việt Bắc. Cuộc đoàn tụ được nối tiếp bằng một đám cưới giản dị tại Nhã Nam (Bắc Giang cũ). Thế nhưng, hạnh phúc vừa mới bắt đầu, ông Vũ Nam Long lại phải lên đường ra trận, tiếp tục những tháng ngày chiến đấu xa gia đình.

Trong những năm tháng chồng thường xuyên xa nhà, bà Đào Lệ Đức vừa đảm nhiệm công tác văn thư, y tá, vừa chăm sóc và nuôi dạy 5 người con. Theo lời kể của ông Đoàn Nam Khoa với báo chí, trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, mẹ ông từng phải tự sinh con giữa rừng khi quân Pháp càn quét, đồng thời cầm súng tự bảo vệ mình trước hiểm nguy. Những lá thư, bức ảnh và cuốn băng ghi âm trở thành sợi dây gắn kết hai vợ chồng giữa những năm tháng cách xa nhau.
Trong khi người vợ lặng lẽ gánh vác việc gia đình, ông Vũ Nam Long vẫn liên tục có mặt tại những chiến trường ác liệt, đảm nhiệm các nhiệm vụ quân sự ngày càng quan trọng. Bản lĩnh và khả năng chỉ huy của ông được thể hiện rõ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trên cương vị Tham mưu trưởng Đại đoàn 304, ông tham gia chỉ huy lực lượng bao vây phân khu Hồng Cúm, chặn đường rút lui của quân Pháp sang Lào.
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, đất nước bước vào giai đoạn mới, cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng diễn biến quyết liệt. Ông tiếp tục được giao nhiều trọng trách trong quân đội, lần lượt giữ chức Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu 4 (1962-1966) và Phó tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ông tham gia chỉ huy lực lượng chiến đấu tại thành phố Huế suốt 28 ngày đêm.

Năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định, ông được Bộ Quốc phòng cử làm đặc phái viên tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 30/4/1975, ông cùng cánh quân hướng Đông tiến vào Sài Gòn, có mặt tại Dinh Độc Lập trong những giờ đầu tiên của ngày đất nước thống nhất. Sau nhiều thập niên gắn bó với chiến trường, người chiến sĩ trong đội quân 34 người đầu tiên đã được chứng kiến thời khắc non sông thu về một mối.
Không chỉ được nhớ đến qua những năm tháng chiến đấu, Trung tướng Vũ Nam Long còn để lại trong ký ức gia đình hình ảnh một người cha giản dị, khiêm nhường. Dù từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội, ông ít khi nhắc đến chiến công hay chức vụ của mình.
Theo ông Đoàn Nam Khoa, cha luôn căn dặn các con khi kê khai lý lịch chỉ ghi cha là bộ đội, không cần ghi chức danh Trung tướng. Ông muốn các con tự lập, trưởng thành bằng chính năng lực và sự nỗ lực của bản thân, thay vì dựa vào vị thế của cha.

Với những cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Trung tướng Vũ Nam Long được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
Ông qua đời ngày 5/7/1999, để lại niềm tiếc thương trong lòng gia đình, đồng đội và những người từng gắn bó với mình.
Việc thành phố Hà Nội đặt tên phố Vũ Nam Long không chỉ là niềm tự hào đối với gia đình mà còn góp phần lưu giữ ký ức về một vị tướng trưởng thành trong những ngày đầu xây dựng quân đội, trải qua hai cuộc kháng chiến và dành trọn cuộc đời phụng sự Tổ quốc.

