Cổ phiếu đáng chú ý ngày 1/10: MBB, NT2, POW
Công ty chứng khoán phân tích và đưa ra nhận định mua/bán đối với các cổ phiếu MBB, NT2, POW.
Ngân hàng Quân đội (MBB): Khuyến nghị mua, giá mục tiêu 25.400 đồng/cp
Kết phiên 30/9, cổ phiếu MBB tăng 0,3% lên 19.650 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận hơn 7 triệu đơn vị, tương ứng giá trị giao dịch khoảng 137 tỷ đồng.
Trong báo cáo mới đây, Chứng khoán VPBank (VPBS) duy trì khuyến nghị mua đối với MBB, với giá mục tiêu 25.400 đồng/cp, tương đương mức tăng kỳ vọng 27% và P/B 2026F 1,5x trên ROE 21%.
Trước áp lực rủi ro vĩ mô tiếp diễn trong nửa cuối năm 2026, VPBS giảm dự phóng tăng trưởng lợi nhuận trước thuế (LNTT) năm 2026 từ 19,3% xuống 15,1%, phù hợp với kế hoạch ĐHĐCĐ đề ra là 15%.
Tại mức giá đóng cửa trên, MBB đang giao dịch ở P/B forward 12 tháng 1,18x, thấp hơn 14,5% so với mức bình quân 5 năm là 1,38x. VPBS duy trì đánh giá tích cực đối với MBB, dựa trên tiềm năng tăng trưởng và khả năng duy trì ROE ở mức cao trong nhóm ngân hàng đầu ngành.
Về luận điểm đầu tư, tăng trưởng tín dụng của MBB dự kiến tiếp tục vượt trội so với mặt bằng ngành. VPBS nâng dự phóng tăng trưởng tín dụng năm 2026 lên 29,9%, sát cận dưới kế hoạch 30-35% của ban lãnh đạo và cao hơn đáng kể mục tiêu 15% của NHNN đối với toàn hệ thống.

Động lực tăng trưởng đến từ ba nhóm chính: (1) Nhu cầu vốn lưu động của các nhà thầu khi giải ngân đầu tư công dồn về cuối năm và lợi thế từ mối liên kết chặt chẽ giữa MBB với nhóm doanh nghiệp quân đội; (2) các chính sách ưu đãi dịch chuyển về khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa; (3) hoạt động cho vay chủ đầu tư bất động sản, nơi MBB không bị ràng buộc về room nhỏ do vai trò nhận chuyển giao bắt buộc.
So với năm 2025, NIM dự phóng chỉ thu hẹp 10 điểm cơ bản, mức co hẹp thấp nhất trong ba năm gần đây, sau khi giảm 72 điểm cơ bản năm 2024 và 21 điểm cơ bản năm 2025. Diễn biến này được hỗ trợ bởi việc dịch chuyển cơ cấu cho vay sang các phân khúc có lợi suất cao và kỳ hạn dài hơn.
VPBS nâng dự phóng tỷ lệ nợ xấu cuối quý III/2026 nhưng vẫn dưới mục tiêu 1,5% của ban lãnh đạo. Tỷ lệ hình thành nợ xấu giảm 9 điểm cơ bản so với cùng kỳ, nhờ diễn biến khả quan hơn của nợ nhóm 2 trong quý II/2026.
Chi phí dự phòng được dự báo tăng 27,7% so với cùng kỳ, chủ yếu phản ánh dư nợ mở rộng gần 30% và việc nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) lên 97,7%, cận sát mức mục tiêu nội bộ của MBB.
Mới đây, HoSE đã chấp thuận cho Ngân hàng TMCP Quân đội thay đổi đăng ký niêm yết. Theo đó, số lượng cổ phiếu MBB được nâng từ hơn 8 tỷ đơn vị lên hơn 9,2 tỷ đơn vị. Ngày thay đổi niêm yết có hiệu lực từ 28/9.
Việc thay đổi đăng ký niêm yết diễn ra sau khi MB hoàn tất phát hành cổ phiếu trả cổ tức cho cổ đông với tỷ lệ 15% bằng cổ phiếu. Ngoài ra, MB cũng thông báo thay đổi số lượng cổ phiếu có quyền biểu quyết sau khi hoàn tất đợt chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng. Sau hai đợt phát hành, vốn điều lệ MB tăng từ 80.550 tỷ đồng lên 100.687 tỷ đồng.
Nhơn Trạch 2 (NT2): Khuyến nghị mua, giá mục tiêu 28.500 đồng/cp
Kết phiên 30/9, cổ phiếu NT2 tăng hơn 4,7% lên 22.100 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận gần 2,2 triệu đơn vị (48 tỷ đồng), cao gấp 6 lần bình quân 10 phiên.
Trong báo cáo mới đây, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự báo trong quý III/2026, pha El Niño tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy huy động từ nguồn nhiệt điện khí. Theo đó, VDSC dự phóng sản lượng Qm trong quý đạt 1.123 triệu kWh, tăng 43% so với cùng kỳ, với doanh thu tương ứng đạt 2.688 tỷ đồng, tăng 39%.

Biên lợi nhuận gộp của công ty ước giảm xuống 9,7%, thấp hơn 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ, do không có doanh thu chênh lệch theo hợp đồng CfD. Lãi ròng ước tăng 9% so với cùng kỳ, lên 233 tỷ đồng.
Cho cả năm 2026, VDSC dự phóng sản lượng phát điện của nhà máy đạt 4.480 triệu kWh, tăng 43% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu huy động điện khí tăng cao trong năm. Doanh thu và lợi nhuận ròng dự phóng lần lượt đạt 10.600 tỷ đồng, tăng 36% và 931 tỷ đồng, giảm 7% so với năm 2025.
Biên lợi nhuận gộp ước giảm 3,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ do hai nguyên nhân: Không ghi nhận doanh thu hợp đồng chênh lệch CfD khi tỷ suất Qc/Qm cả năm dưới 100%; đồng thời không ghi nhận các khoản thu một lần như trong năm 2025.
VDSC đánh giá năm 2026 sẽ là khởi đầu cho một chu kỳ vận hành ổn định mới của NT2, tương tự giai đoạn 2018-2022. Động lực chính đến từ nhu cầu tiêu thụ điện khí ngày càng tăng và sự ổn định của nguồn khí đầu vào, đặc biệt khi các dự án khai thác mỏ mới của PV GAS đi vào hoạt động, trong đó có dự án Sư Tử Trắng Pha 2B từ năm 2027.
Sử dụng kết hợp phương pháp định giá DCF và EV/EBITDA với tỷ trọng 50:50, VDSC xác định giá trị hợp lý của cổ phiếu NT2 ở mức 28.500 đồng/cp. Ngoài ra, VDSC kỳ vọng mức chi trả cổ tức tiền mặt trong 12 tháng tới ở mức 1.500 đồng/cp.
Tổng mức sinh lời kỳ vọng trong 12 tháng là 44%, theo đó VDSC khuyến nghị mua đối với cổ phiếu NT2.
PV Power (POW): Khuyến nghị mua, giá mục tiêu 17.500 đồng/cp
Kết phiên 30/9, cổ phiếu POW tăng gần 2,4% lên 13.000 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận 18,2 triệu đơn vị, tương ứng 237,4 tỷ đồng, cao gấp 4 lần bình quân 10 phiên.
Mới đây, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường cùng lãnh đạo các đơn vị thành viên đã có buổi làm việc với GE Vernova (Mỹ) nhằm rà soát và thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực điện. Đây là bước tiếp nối quan hệ hợp tác giữa hai bên, trong đó GE Vernova đã cung cấp tuabin khí cho Nhà máy điện Nhơn Trạch 3&4, dự án điện khí LNG đầu tiên của Việt Nam với tổng vốn đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD do PV Power làm chủ đầu tư.
Trước đó, PV Power và GE Vernova đã ký kết các thỏa thuận hợp tác liên quan đến việc cung cấp thiết bị và dịch vụ cho các nhà máy điện khí LNG, qua đó mở ra cơ hội hợp tác trong các dự án năng lượng quy mô lớn trong thời gian tới.
Tại buổi làm việc hồi tháng 3/2026, PV Power và GE Vernova cũng trao đổi về các định hướng hợp tác, bao gồm cung cấp thiết bị, dịch vụ kỹ thuật và các giải pháp công nghệ cho những dự án điện khí do PV Power phát triển như LNG Quảng Ninh, tổng vốn đầu tư 47.500 tỷ đồng; Quỳnh Lập (59.372 tỷ đồng) và Vũng Áng III (51.430 tỷ đồng).
Trong báo cáo mới đây, VPBS đánh giá triển vọng kinh doanh của công ty trong những năm tới ở mức tích cực dựa trên ba yếu tố: Kết quả kinh doanh đang dần cải thiện; năng lực hoạt động gia tăng khi Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3&4 đi vào hoạt động từ năm 2026; cùng với triển vọng phát triển của ngành khi nhu cầu điện tăng cao và các dự án đầu tư tiềm năng tạo cơ hội mở rộng cho doanh nghiệp.
Kết hợp phương pháp định giá DCF và so sánh P/E, P/B, VPBS xác định giá trị hợp lý của cổ phiếu POW ở mức 17.500 đồng/cp, cao hơn 40% so với thị giá. Công ty chứng khoán này khuyến nghị mua đối với POW cho cơ hội đầu tư trung và dài hạn.
Về luận điểm đầu tư, VPBS đánh giá kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh mẽ của POW đến từ chi phí sản xuất giảm khi các nhà máy điện bước vào giai đoạn giảm chi phí khấu hao và lãi vay; đồng thời sản lượng điện tăng khi các nhà máy đảm bảo tính khả dụng và được huy động ở mức cao.
Mới đây, PV Power vừa công bố kết quả kinh doanh 8 tháng năm 2026 với doanh thu sản xuất điện đạt 40.500 tỷ đồng, tăng 83% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 8, doanh thu tăng 2,1 lần.
Cho cả năm 2026, VPBS dự báo sản lượng điện sản xuất đạt 25 tỷ kWh, tăng 34% so với năm 2025. Doanh thu và lợi nhuận trước thuế dự báo lần lượt đạt 61.586 tỷ đồng và 7.268 tỷ đồng, tăng 80% và 125% so với năm 2025.
Đơn vị phân tích cho biết nhà máy Nhơn Trạch 3&4 có công suất thiết kế 1.624 MW, với sản lượng điện mỗi năm từ 9-10 tỷ kWh khi hoạt động ổn định, qua đó đưa năng lực hoạt động của công ty tăng thêm hơn 30%.
Nhà máy có lợi thế cạnh tranh lớn và được kỳ vọng gia tăng hiệu quả nhờ sử dụng công nghệ hiện đại thế hệ mới, với hiệu suất hoạt động ở mức cao 62-64%, giúp tiết kiệm nhiên liệu. Vốn đầu tư thực hiện cũng thấp hơn dự toán, khoảng 26.000-27.000 tỷ đồng so với 32.500 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, công ty cùng các đối tác đang tập trung thực hiện các dự án nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, LNG Quỳnh Lập và LNG Vũng Áng III, với tổng công suất 4.500 MW, dự kiến hoạt động trong giai đoạn 2030-2032. Trong chiến lược phát triển, công suất dự kiến tăng lên 7.500 MW vào năm 2030 và 26.900 MW vào năm 2050.

Ở góc độ nhóm ngành, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định nhu cầu điện thương phẩm tăng 10-12,5% trong giai đoạn 2026-2030, tương đương 500-558 tỷ kWh vào năm 2030, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao.
Điện khí LNG được xác định là một trong những nguồn điện nền đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn 2025-2035. Các dự án nguồn điện lớn được đầu tư sẽ tạo cơ hội phát triển cho những doanh nghiệp có năng lực, trong đó POW là một trong những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này.
