ETF Đài Loan rút hơn 2.500 tỷ đồng khỏi thị trường cổ phiếu Việt Nam
Giữa kỳ vọng vốn ngoại trở lại sau nâng hạng, Fubon FTSE Vietnam ETF lại đi ngược dòng: hơn 2.500 tỷ đồng rút khỏi quỹ, để lại dấu vết trên NAV, CCQ và danh mục cổ phiếu Việt Nam.

Hơn 2.500 tỷ đồng rời Fubon ngay trước mốc nâng hạng
Kỳ vọng đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng sau khi tổ chức xếp hạng FTSE Russell xác nhận lộ trình phân loại thị trường chứng khoán Việt Nam từ nhóm cận biên lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ ngày 21/9. Sự thay đổi phân loại quy mô toàn cầu này mở ra cơ hội để dòng vốn quốc tế phân bổ tỷ trọng lớn hơn vào các rổ chỉ số tham chiếu cơ sở.
Trong diễn biến mang tính phân kỳ với xu hướng vĩ mô nêu trên, dòng vốn tại quỹ hoán đổi danh mục (ETF) Fubon FTSE Vietnam ETF lại ghi nhận trạng thái đảo chiều. Đây là quỹ ETF niêm yết tại thị trường Đài Loan, mã giao dịch 00885, vận hành theo cơ chế mô phỏng thụ động Chỉ số FTSE Vietnam 30 Index.
Quỹ này từng đóng vai trò là một trong những kênh dẫn vốn ngoại quy mô lớn vào thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2021-2022. Tuy nhiên, số liệu định lượng giữa tháng 6 cho thấy quy mô tài sản quản lý (AUM) vẫn đang trong chu kỳ thu hẹp.
Tại ngày mốc báo cáo 18/6, Fubon FTSE Vietnam ETF ghi nhận giá trị tài sản ròng (NAV) ở mức 11,9 tỷ TWD. Dựa trên tỷ giá hạch toán tham chiếu của quỹ, quy mô này tương đương khoảng 377 triệu USD, trị giá ước tính khoảng 9.929 tỷ đồng.
Lượng chứng chỉ quỹ (CCQ) lưu hành giảm xuống còn 637,7 triệu đơn vị. NAV trên mỗi CCQ đạt 18,67 TWD.
Quy mô hiện tại thể hiện mức sụt giảm đáng kể so với các giai đoạn vận hành trước đó. Vào tháng 9/2023, NAV của quỹ từng đạt ngưỡng xấp xỉ 835 triệu USD.
So với thời điểm hiện tại, AUM đã giảm khoảng 458 triệu USD, tương đương tỷ lệ suy giảm gần 55%. Biên độ thu hẹp này tiếp tục duy trì ở mức gần 54% khi đặt trong phép so sánh với quy mô 817 triệu USD ghi nhận vào tháng 5/2024.
Biến động NAV của quỹ không đơn thuần xuất phát từ sự tái định giá các tài sản cơ sở trong danh mục đầu tư. Số liệu thống kê cho thấy quỹ đối mặt với áp lực rút vốn ròng hơn 89 triệu USD tính từ đầu năm đến hết tháng 5, và con số này lũy kế đạt hơn 96 triệu USD tính đến ngày 11/6.
Quy đổi theo tỷ giá hiện tại, giá trị vốn rút ròng tương đương khoảng 2.526 tỷ đồng. Giá trị này chiếm 25,5% tổng NAV tại ngày 18/6.
Xu hướng rút vốn tại Fubon FTSE Vietnam ETF nằm trong bối cảnh chung của nhóm các quỹ ETF đang phân bổ dòng vốn tại Việt Nam. Tính từ đầu năm đến ngày 12/6, khối các quỹ ETF đầu tư vào thị trường trong nước ghi nhận tổng giá trị rút vốn ròng hơn 4.100 tỷ đồng, dù tốc độ này đã chậm lại so với mức rút ròng 15.600 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Tổng NAV của toàn khối duy trì ở mức gần 60.300 tỷ đồng, giảm 9,1% so với thời điểm cuối năm tài chính trước.

Bảng tài sản hé lộ áp lực mua lại chứng chỉ quỹ
Đối với một cấu trúc quỹ ETF vận hành theo chiến lược mô phỏng chỉ số, biến động quy mô CCQ lưu hành có mối liên hệ trực tiếp với quy mô danh mục tài sản cơ sở. Khi lượng CCQ lưu hành sụt giảm trên thị trường thứ cấp, hoạt động mua lại chứng chỉ quỹ sẽ kéo theo nhu cầu điều chỉnh danh mục tương ứng.
Quá trình này gắn với việc thanh lý một phần danh mục cổ phiếu nhằm duy trì tỷ trọng mục tiêu và hạn chế sai số mô phỏng (Tracking Error).
Tại ngày mốc báo cáo 18/6, cấu trúc danh mục cổ phiếu của quỹ đạt giá trị định giá 11,2 tỷ TWD, tương đương 354 triệu USD, quy đổi khoảng 9.329 tỷ đồng. Tỷ trọng phân bổ vào tài sản cổ phiếu chiếm 94% NAV, thấp hơn mức 99,2% ghi nhận vào ngày 28/5.
Sự thay đổi về mặt cấu trúc này cho thấy quá trình dịch chuyển dòng vốn nội bộ trong khoảng thời gian ngắn dưới một tháng. Tỷ trọng tài sản cổ phiếu giảm hơn 5 điểm phần trăm, trong khi vị thế tiền mặt và các khoản phải trả ngắn hạn tăng lên.
Báo cáo tình hình tài chính của Fubon FTSE Vietnam ETF ghi nhận nghĩa vụ nợ đối với hoạt động mua lại CCQ lên tới 119,6 triệu TWD, tương đương khoảng 100 tỷ đồng. Để đối ứng với các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn này, quỹ duy trì trạng thái thanh khoản gồm 125,7 triệu TWD tiền mặt, khoản dự phòng 1,126 triệu USD và hơn 54,7 triệu đồng.
Mặc dù các cấu phần thanh khoản này chiếm tỷ trọng thứ yếu so với tổng danh mục cổ phiếu hơn 9.300 tỷ đồng, sự xuất hiện của chúng cho thấy áp lực tất toán CCQ đã phản ánh trực tiếp lên cấu trúc bảng tài sản.
Động thái thu hẹp lượng CCQ lưu hành diễn ra liên tục trong nửa đầu tháng 6. Đến ngày 11/6, quy mô CCQ đạt mức 641 triệu đơn vị, trước khi giảm xuống mức chính thức 637,7 triệu đơn vị vào ngày 18/6.
Như vậy, chỉ trong chu kỳ giao dịch một tuần, hệ thống đã thực hiện mua lại và hủy bỏ hơn 3,26 triệu đơn vị CCQ. Biến động này tương ứng biên độ giảm 0,5% khối lượng lưu hành.
Tại ngày giao dịch 22/6, thị giá của mã CCQ 00885 trên thị trường thứ cấp đạt 18,86 TWD, giao dịch dưới giá trị tài sản ròng ước tính 19,04 TWD với biên độ chiết khấu 0,95%. Trạng thái chiết khấu này phản ánh mối quan hệ cung cầu, chi phí phòng vệ rủi ro tỷ giá giữa TWD và VND, cùng các chi phí tác động thị trường phát sinh từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage) giữa hai quốc gia.
Danh mục Fubon tập trung vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn
Chiến lược đầu tư của Fubon FTSE Vietnam ETF định hướng sự tập trung cao vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Đến ngày mốc báo cáo 18/6, mã cổ phiếu VHM giữ tỷ trọng phân bổ lớn nhất, chiếm 13,3% NAV, tương ứng khối lượng nắm giữ 9,15 triệu cổ phiếu, giá trị định giá đạt 1,584 tỷ TWD, quy đổi khoảng 1.321 tỷ đồng.
Mã cổ phiếu VIC đứng vị trí thứ hai với tỷ trọng phân bổ 12,8%, tương ứng khối lượng 6,2 triệu cổ phiếu, giá trị định giá 1,527 tỷ TWD, quy đổi khoảng 1.273 tỷ đồng.
Mã cổ phiếu HPG đứng vị trí thứ ba trong danh mục với tỷ trọng cấu trúc đạt 8,1%, tương ứng khối lượng nắm giữ 34,1 triệu cổ phiếu, đạt giá trị định giá 968,2 triệu TWD, quy đổi khoảng 807 tỷ đồng. Các vị thế quy mô lớn tiếp theo trong rổ chỉ số bao gồm VCB, SSI, MSN, VIX, VCI, VNM và STB với tỷ trọng lần lượt là 5,2%, 5%, 4,9%, 4,3%, 4,2%, 4,1% và 4%.
Giá trị định giá lũy kế của mười mã cổ phiếu hàng đầu chiếm tỷ trọng 66% tổng NAV. Tỷ trọng này cấu thành 70,2% quy mô danh mục đầu tư cổ phiếu của quỹ.

Tổng giá trị định giá của mười vị thế lớn nhất đạt mức 7,854 tỷ TWD, tương đương khoảng 6.551 tỷ đồng. Riêng hai mã cổ phiếu VHM và VIC đã chiếm tỷ trọng chi phối trên 26% NAV của quỹ. Khi tính hợp nhất mã cổ phiếu VRE, tổng tỷ trọng phân bổ vào nhóm cổ phiếu thuộc hệ sinh thái Vingroup cấu thành tỷ lệ gần 28,8% quy mô danh mục.
Nhóm cổ phiếu ngành chứng khoán cũng cấu thành một cấu phần trọng yếu trong mô hình phân bổ tài sản. Các mã cổ phiếu bao gồm SSI, VIX, VCI, VND và một số mã ngành chiếm quy mô tỷ trọng khoảng 20,4% NAV.
Song song đó, nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng bao gồm các cấu phần VCB, STB, SHB, BID, TPB và EIB chiếm tỷ trọng xác lập ở mức 15,5%.
Đặc điểm cấu trúc danh mục tập trung cao này khiến biến động về quy mô dòng vốn rút ra của quỹ dễ tạo áp lực bán kỹ thuật lên các mã cổ phiếu có tỷ trọng lớn nhất. Khi quỹ thu hẹp danh mục để đáp ứng nghĩa vụ mua lại CCQ, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn thuộc rổ chỉ số thường chịu áp lực cung với giá trị tuyệt đối cao hơn.
Do đó, áp lực thanh lý xuất hiện tại các mã cổ phiếu VHM, VIC, HPG, VCB, SSI hay nhóm ngành chứng khoán chủ yếu bắt nguồn từ cơ chế tái cấu trúc danh mục thụ động. Diễn biến cung ứng này tách biệt với các đánh giá định lượng về nền tảng cơ bản của từng doanh nghiệp niêm yết.
Bản chất của hiện tượng phân kỳ này nằm ở sự khác biệt về kỳ vọng thời gian và đặc tính kỹ thuật của cấu trúc sản phẩm tài chính. Tiến trình nâng hạng thị trường của tổ chức FTSE Russell là mục tiêu mang tính chiến lược dài hạn có hiệu lực từ ngày 21/9.
Trong khi đó, diễn biến thu hẹp quy mô của Fubon FTSE Vietnam ETF lại là phản ứng kỹ thuật ngắn hạn của dòng vốn bán lẻ tại thị trường Đài Loan trong tháng 6. Một bên đại diện cho kỳ vọng đón nhận dòng vốn mới dựa trên sự thay đổi phân loại tài sản toàn cầu, bên còn lại phản ánh áp lực quản trị thanh khoản dòng tiền tại một cấu trúc quỹ ETF cụ thể trên thị trường quốc tế.
