Ngành đất hiếm Trung Quốc lộ điểm yếu chí mạng?
Theo một nghiên cứu mới, nước này vẫn tụt hậu so với Nhật Bản và Mỹ ở nhiều công nghệ cốt lõi, từ nam châm vĩnh cửu đến vật liệu phục vụ sản xuất chip.
Trong nhiều năm, vị thế thống trị của Trung Quốc trong khai thác, tinh chế và xuất khẩu đất hiếm được xem là một lợi thế chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng ngành công nghiệp đất hiếm của nước này vẫn tồn tại một điểm yếu cốt lõi.
"Trung Quốc chưa nắm giữ vị trí dẫn đầu trong việc làm chủ các công nghệ lõi then chốt ở một số lĩnh vực", nhóm nghiên cứu nhận định.
Lợi thế về tài nguyên không đồng nghĩa với ưu thế công nghệ
Được công bố trên số mới nhất của Bản tin Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, nghiên cứu không tập trung vào trữ lượng hay năng lực sản xuất đất hiếm, mà đánh giá năng lực công nghệ trong lĩnh vực vật liệu chức năng đất hiếm cao cấp.
Nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc kết luận rằng các bằng sáng chế cốt lõi làm nền tảng cho các vật liệu chức năng đất hiếm tiên tiến hiện vẫn chủ yếu nằm trong tay Nhật Bản và Mỹ.

Đây là các hợp chất và linh kiện ở khâu hạ nguồn được chế tạo từ đất hiếm đã qua xử lý, bao gồm nam châm vĩnh cửu, vật liệu xúc tác, vật liệu phát quang và vật liệu đánh bóng. Những lĩnh vực này chiếm hơn 80% tổng số bằng sáng chế liên quan đến đất hiếm trên toàn cầu, đồng thời tạo ra phần lớn giá trị thương mại của ngành.
Ở mảng nam châm vĩnh cửu, Nhật Bản vẫn duy trì vị thế dẫn đầu xét trên hầu hết các bằng sáng chế quan trọng. Trung Quốc chỉ vượt đối thủ ở một số công nghệ liên quan đến hợp kim, nhưng vẫn đứng sau Nhật Bản và Mỹ trong các lĩnh vực như vật liệu nam châm vĩnh cửu, công nghệ chế tạo bột kim loại, hợp kim nền cobalt, phương pháp thiêu kết và công nghệ lõi rôto.
Khoảng cách còn rõ rệt hơn trong lĩnh vực vật liệu xúc tác, khi Mỹ dẫn đầu gần như toàn bộ những công nghệ cốt lõi được khảo sát, còn Trung Quốc không thể hiện lợi thế đáng kể so với các đối thủ lớn khác.
Xu hướng tương tự cũng xuất hiện ở vật liệu phát quang. Mỹ nắm ưu thế trong phần lớn công nghệ then chốt, trong khi Trung Quốc chỉ dẫn đầu ở một số vật liệu chứa silicon và vẫn tụt hậu ở các vật liệu phát quang hữu cơ, vô cơ, công nghệ điện phát quang cũng như nhiều hệ vật liệu tiên tiến.
Đối với vật liệu đánh bóng, Mỹ tiếp tục xếp trên Trung Quốc ở hầu hết các quy trình sản xuất quan trọng.
Trung Quốc chỉ duy trì khả năng cạnh tranh ở một số công nghệ như phương pháp ủ nhiệt, song vẫn chậm hơn trong các lĩnh vực như hợp chất đánh bóng, vật liệu mài, hợp chất đất hiếm và nhiều quy trình sản xuất thiết yếu phục vụ ngành bán dẫn cũng như chế tạo chính xác.
Theo nghiên cứu, những kết quả này cho thấy việc thống trị nguồn nguyên liệu không đồng nghĩa với việc dẫn đầu các công nghệ tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất.

Nhiều nghiên cứu vẫn "mắc kẹt" trong phòng thí nghiệm
Các nhà nghiên cứu cho rằng một phần nguyên nhân đến từ cấu trúc hệ thống đổi mới sáng tạo của Trung Quốc. Mặc dù nước này đăng ký số lượng lớn bằng sáng chế về đất hiếm, nhưng tương đối ít trong số đó là các bằng sáng chế quốc tế có giá trị cao và sức ảnh hưởng thương mại rộng.
"Trung Quốc cung cấp hơn 60% sản phẩm đất hiếm của thế giới, nhưng việc xây dựng mạng lưới bằng sáng chế quốc tế vẫn còn hạn chế và tỷ trọng bằng sáng chế giá trị cao tương đối thấp", nghiên cứu nêu rõ.
hân tích các bài báo đăng trên Tạp chí Đất hiếm trong suốt 2 thập kỷ cho thấy hơn một nửa các chủ đề nghiên cứu được xác định không phát triển thành các danh mục bằng sáng chế quy mô lớn, phản ánh thực tế nhiều kết quả nghiên cứu vẫn chỉ dừng ở giai đoạn phòng thí nghiệm thay vì được thương mại hóa.
Một nguyên nhân khác là sự phối hợp còn hạn chế giữa các trường đại học, doanh nghiệp và hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ.
"Bản thân các trường đại học thường ưu tiên công bố bài báo và triển khai các đề tài nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp có thể trì hoãn việc đăng ký bằng sáng chế do thiếu sự phối hợp giữa bộ phận nghiên cứu - phát triển (R&D) và quản lý sở hữu trí tuệ", báo cáo cho biết.
Theo nhóm tác giả, các cơ chế khuyến khích hiện nay cũng chưa tạo đủ động lực để phát triển và bảo vệ các bằng sáng chế có giá trị cao.
