Quốc hội bàn đưa một tỉnh lên thành phố trực thuộc Trung ương: Không gian 6.231km2 sẽ được 'vận hành' thế nào?
Địa phương này đang đứng trước bài toán lớn hơn việc thay đổi mô hình hành chính, đó là xây dựng một cấu trúc phát triển đủ sức kết nối đô thị, biển đảo, biên giới và các vùng còn chênh lệch về hạ tầng, qua đó tạo dư địa tăng trưởng mới cho toàn vùng Đông Bắc.
Quốc hội ngày 12/8 thảo luận việc thành lập thành phố Quảng Ninh trên toàn bộ diện tích và dân số hiện hữu của tỉnh. Đằng sau quyết định về mô hình hành chính là bài toán lớn hơn, đó là làm sao quản trị một không gian trải dài từ đô thị, biển đảo đến miền núi, biên giới; vừa tạo thêm động lực tăng trưởng, vừa không để những vùng phát triển chậm bị bỏ lại phía sau.
Một thành phố không giống những thành phố thông thường
Sáng 12/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về việc thành lập thành phố Quảng Ninh, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định. Điểm đặc biệt của phương án này nằm ở quy mô.
Thành phố Quảng Ninh dự kiến được thành lập trên toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số và số đơn vị hành chính cấp xã hiện nay của tỉnh Quảng Ninh. Theo phương án trình Quốc hội, đơn vị mới có diện tích 6.231,27km2, dân số 1.523.400 người, gồm 54 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 30 phường, 22 xã và 2 đặc khu. Vì vậy, đây không phải câu chuyện một đô thị mở rộng địa giới để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo cách thông thường.

Quảng Ninh sẽ phải giải một bài toán khó hơn: Quản trị một không gian vừa có đô thị lớn, vừa có vùng núi, biên giới, biển đảo, khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển và những vùng di sản đặc biệt. Đây cũng là điểm khiến nhiều đại biểu Quốc hội không chỉ nhìn vào việc Quảng Ninh đã “đủ chuẩn” hay chưa, mà tập trung nhiều hơn vào cách địa phương vận hành mô hình mới sau khi được thành lập.
Từ “có lợi thế” sang “biến lợi thế thành một hệ thống”
Quảng Ninh không thiếu lợi thế.
Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh chỉ ra địa phương có vị trí đặc biệt khi đồng thời sở hữu biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, hệ thống cửa khẩu quốc tế, không gian biển rộng và hơn 2.770 hòn đảo lớn nhỏ.
Đại biểu Tạ Đình Thi dẫn thêm các lợi thế về biển với đường bờ biển hơn 250km, diện tích mặt biển trên 6.000km2 và hơn 2.000 đảo lớn nhỏ, cùng các không gian biển nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cô Tô, Quan Lạn, Minh Châu, Trà Cổ. Nhưng vấn đề không còn là chứng minh Quảng Ninh có bao nhiêu lợi thế mà thách thức thực sự là làm thế nào để những lợi thế đang nằm ở những không gian khác nhau có thể cộng hưởng với nhau.
Một cảng biển chỉ tạo ra giá trị lớn hơn khi kết nối được với logistics, công nghiệp và thị trường. Một cửa khẩu chỉ phát huy hết tiềm năng khi gắn với hạ tầng giao thông, thương mại và dịch vụ. Một điểm đến du lịch không chỉ cần cảnh quan mà còn cần hệ thống đô thị, giao thông, dịch vụ và nguồn nhân lực.
Và một vùng biển rộng không thể chỉ được nhìn như tài nguyên du lịch, mà còn có thể trở thành không gian của kinh tế hàng hải, năng lượng tái tạo, thủy sản bền vững và những ngành kinh tế biển mới. Đó chính là lý do đại biểu Tạ Đình Thi đề xuất nhìn Quảng Ninh như một “quốc gia biển mạnh thu nhỏ”.
Con số 11,89% nói lên điều gì?
Quảng Ninh đã có một nền tảng kinh tế đủ lớn để bước vào cuộc thử nghiệm quản trị mới. Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cho biết tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 của tỉnh đạt 11,89%, cao nhất cả nước; thu ngân sách đứng thứ 6.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân dẫn số liệu quy mô kinh tế khoảng 14 tỷ USD, đứng thứ 7 cả nước; GDP bình quân đầu người đứng đầu cả nước và thu ngân sách đạt hơn 86.000 tỷ đồng. Những con số này quan trọng, nhưng chưa phải đích đến.
Bởi một địa phương tăng trưởng nhanh vẫn có thể đối mặt với những vấn đề của một đô thị lớn nếu hạ tầng và năng lực quản trị không theo kịp. Khi dân cư tập trung hơn, nhu cầu giao thông, trường học, bệnh viện, nhà ở, xử lý rác thải, nước thải và các dịch vụ công sẽ tăng. Khi công nghiệp và logistics phát triển, áp lực lên đất đai, môi trường và hạ tầng cũng tăng. Khi du lịch mở rộng, sức ép lên các di sản và cảnh quan cũng lớn hơn.
Thành công của mô hình mới vì vậy không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP. Nó còn phải được đo bằng chất lượng tăng trưởng và khả năng phân bổ thành quả phát triển.
Một thành phố nhưng không được để “hai Quảng Ninh”
Đây là một trong những vấn đề đáng chú ý nhất được đặt ra tại phiên thảo luận. Quảng Ninh có những khu vực phát triển mạnh ở đô thị, ven biển, trong khi miền núi và biên giới vẫn còn khoảng cách về hạ tầng và điều kiện phát triển.
Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh đề nghị thành phố sau khi thành lập cần nghiên cứu cơ chế điều tiết nguồn thu từ những khu vực phát triển năng động để hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật và an sinh xã hội tại các vùng khó khăn. Đây không chỉ là bài toán phân bổ ngân sách mà là bài toán về mô hình phát triển.
Nếu các nguồn lực chỉ tiếp tục chảy về những cực vốn đã mạnh, mô hình thành phố mới có nguy cơ tạo ra những khoảng cách lớn hơn ngay bên trong cùng một đơn vị hành chính. Ngược lại, nếu các cực tăng trưởng có khả năng kéo theo vùng miền núi, biên giới, nông thôn cùng phát triển, Quảng Ninh sẽ có một cấu trúc kinh tế cân bằng và bền vững hơn.
Quảng Ninh có thể phát triển mạnh nhờ biển, nhưng chính biển cũng đặt ra giới hạn đối với cách phát triển. Vịnh Hạ Long không chỉ là một địa danh du lịch mà còn là tài sản môi trường và thương hiệu quốc tế. Yên Tử cũng không đơn thuần là một điểm đến mà mang giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh đặc biệt.

Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa cảnh báo đô thị hóa không được làm phai nhạt không gian văn hóa, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Điều này đặt ra một yêu cầu khác với quy hoạch thông thường: Quảng Ninh không thể phát triển bằng cách lấp đầy mọi không gian có thể xây dựng.
Quy hoạch phải trả lời được câu hỏi khu vực nào cần đô thị hóa, khu vực nào cần bảo tồn, khu vực nào dành cho công nghiệp, logistics, du lịch và khu vực nào phải giữ vai trò “vùng đệm” sinh thái. Nếu không giải được bài toán này, chính tốc độ phát triển có thể trở thành áp lực lên những tài sản làm nên lợi thế của Quảng Ninh.
“Đô thị hóa” không chỉ là thêm phường
Một thành phố trực thuộc Trung ương không thể được đánh giá chỉ bằng số lượng phường. Đằng sau việc tổ chức lại đơn vị hành chính là yêu cầu nâng cấp toàn bộ hệ thống hạ tầng và quản trị. Đại biểu Trần Hoàng Ngân lưu ý những vấn đề thường xuất hiện khi đô thị hóa nhanh như ùn tắc, thiếu nhà ở xã hội, quá tải trường học, bệnh viện, rác thải, nước thải và an ninh trật tự.
Đây là những vấn đề rất cụ thể, nhưng lại quyết định chất lượng của một thành phố. Quảng Ninh vì vậy được đề nghị sớm rà soát, điều chỉnh quy hoạch với những tiêu chí cao hơn, đặc biệt về hạ tầng kinh tế - xã hội.
Đồng thời, địa phương cần có chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi mô hình; tổ chức giải quyết thủ tục thuận lợi, thậm chí ngoài giờ hành chính; miễn phí những thủ tục chuyển đổi giấy tờ cần thiết và có giải pháp ổn định mặt bằng giá.
Một trong những đề xuất đáng chú ý tại phiên thảo luận là xây dựng bộ máy chính quyền đô thị tinh gọn nhưng đủ năng lực quản lý tổng hợp không gian biển dựa trên dữ liệu số, quy hoạch và hệ sinh thái.
Đại biểu Tạ Đình Thi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện giao thông, năng lượng, hạ tầng số; ưu tiên những công trình lưỡng dụng phục vụ cả phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Cùng với đó là hướng tới phát triển cửa khẩu thông minh Móng Cái, nghiên cứu kết nối đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh và lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực. Nếu được thực hiện, đây sẽ là bước chuyển từ cách nhìn “quản lý từng ngành, từng địa bàn” sang quản trị một hệ thống không gian liên thông.
Câu hỏi lớn nhất bắt đầu sau quyết định của Quốc hội
Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh được các đại biểu đánh giá đã đáp ứng 5/5 điều kiện và 7/7 tiêu chuẩn theo quy định được viện dẫn tại phiên thảo luận. Nhưng xét ở góc độ phát triển, đó mới là điều kiện cần.
Điều kiện đủ nằm ở việc Quảng Ninh có biến được mô hình mới thành một công cụ tạo tăng trưởng hay không. Một thành phố rộng hơn 6.200km2 với hơn 1,5 triệu dân không thể vận hành hiệu quả nếu các đô thị phát triển rời rạc, vùng miền núi thiếu hạ tầng, biển đảo bị khai thác quá mức hoặc giao thông không theo kịp tốc độ đô thị hóa.
Ngược lại, nếu kết nối được biên giới với biển, cảng với logistics, công nghiệp với đô thị, du lịch với di sản, các cực tăng trưởng với vùng khó khăn, Quảng Ninh có thể tạo ra một cấu trúc phát triển mà một đơn vị hành chính cấp tỉnh thông thường khó đạt được.
Vì thế, điều Quốc hội thảo luận ngày 12/8 không chỉ là “có thành lập thành phố Quảng Ninh hay không” mà câu chuyện lớn hơn ở việc nếu được trao một không gian phát triển ở quy mô mới, Quảng Ninh sẽ quản trị và khai thác không gian ấy như thế nào để tăng trưởng nhanh hơn nhưng vẫn giữ được biển, giữ được di sản và không để những vùng yếu thế bị đứng ngoài cuộc chơi? Đây mới được xem là bài kiểm tra thực sự của một thành phố trực thuộc Trung ương ở cực Đông Bắc Tổ quốc trong tương lai.
