Từ 1/7/2026, ngân hàng được dùng bao nhiêu vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn?
Quy định mới của Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách ngân hàng cân đối nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn.
Từ ngày 1/7/2026, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn. Quy định này được nêu tại khoản 5 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Thông tư 25/2026/TT-NHNN.
Tỷ lệ này được Ngân hàng Nhà nước quy định nhằm kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho các khoản vay có thời hạn dài hơn, qua đó hạn chế rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng.
Tuy nhiên, 40% không được hiểu là ngân hàng có thể lấy 40% tổng tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn. Tỷ lệ được tính trên phần dư nợ cho vay trung, dài hạn chưa được đáp ứng bằng nguồn vốn trung, dài hạn, so với tổng nguồn vốn ngắn hạn.
Tỷ lệ 40% được tính như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xác định tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn theo đồng Việt Nam. Các loại ngoại tệ được quy đổi sang đồng Việt Nam để xác định tỷ lệ.
Công thức được áp dụng là A (%) = B/C x 100%.
Trong đó, A là tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn. B là tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn theo quy định sau khi trừ tổng nguồn vốn trung hạn, dài hạn. C là nguồn vốn ngắn hạn.
Cách tính này cho thấy ngân hàng không chỉ căn cứ vào quy mô tiền gửi hoặc nguồn vốn ngắn hạn. Phần nguồn vốn trung, dài hạn được sử dụng để tài trợ cho các khoản cho vay trung, dài hạn sẽ được tính trước khi xác định phần vốn ngắn hạn được sử dụng.

Nguồn vốn ngắn hạn gồm những gì?
Theo khoản 4 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, nguồn vốn ngắn hạn là các khoản có thời hạn còn lại đến 1 năm, bao gồm cả tiền gửi không kỳ hạn.
Nhóm nguồn vốn này gồm tiền gửi của cá nhân; tiền gửi của tổ chức trong nước và nước ngoài sau khi loại trừ một số khoản theo quy định; tiền vay tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài; một số khoản vốn tài trợ, ủy thác đầu tư; cùng tiền huy động từ phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu.
Đối với ngân hàng hợp tác xã, tiền gửi của quỹ tín dụng nhân dân cũng được tính vào nguồn vốn ngắn hạn theo quy định.
Khoản nào được tính vào dư nợ trung, dài hạn?
Theo khoản 2 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn bao gồm dư nợ các khoản có thời hạn còn lại trên 1 năm.
Trong đó có các khoản cho vay, một số khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác cho vay mà ngân hàng chịu rủi ro; các khoản mua, đầu tư vào giấy tờ có giá và các khoản ủy thác mua, đầu tư giấy tờ có giá mà ngân hàng chịu rủi ro.
Dư nợ gốc bị quá hạn của khoản cho vay, ủy thác cho vay; số dư mua, đầu tư giấy tờ có giá và số dư ủy thác mua, đầu tư giấy tờ có giá cũng được tính theo quy định pháp luật.
Nguồn vốn trung, dài hạn được xác định ra sao?
Theo khoản 3 Điều 16 Thông tư 22/2019/TT-NHNN, nguồn vốn trung hạn, dài hạn là số dư có thời hạn còn lại trên 1 năm của các khoản tiền gửi của cá nhân; tiền gửi của tổ chức trong nước và nước ngoài, trừ tiền gửi các loại của Kho bạc Nhà nước; tiền vay tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài.
Ngoài ra, nhóm nguồn vốn này còn bao gồm vốn tài trợ ủy thác đầu tư nhận của Chính phủ mà ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu rủi ro; tiền huy động từ phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu; vốn chủ sở hữu và một số khoản mục khác theo quy định.
Như vậy, từ ngày 1/7/2026, tỷ lệ tối đa 40% được xác định trên cơ sở cân đối giữa nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn trung, dài hạn và dư nợ cho vay trung, dài hạn. Ngân hàng phải bảo đảm tỷ lệ này không vượt mức quy định trong quá trình cân đối nguồn vốn và tín dụng.