94% doanh nghiệp Việt là nhỏ và vừa nhưng chỉ 8,8% vay được vốn: Vì sao ngân hàng không giải ngân?
Khoảng 914.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) chiếm tới 94% tổng số doanh nghiệp Việt Nam, nhưng chỉ 8,8% tiếp cận được vốn vay.
Theo báo cáo “Doanh nghiệp SME Việt Nam: Mức độ trưởng thành và Tiếp cận tín dụng” tháng 8/2026, FiinGroup thống kê khoảng 914.000 doanh nghiệp là DNVVN, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp cả nước. Khu vực này sử dụng khoảng 38,6% tổng lao động của nền kinh tế, song chỉ đóng góp dưới 20% doanh thu, khoảng 6,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và 9% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Khoảng cách đáng chú ý nhất nằm ở khả năng tiếp cận tín dụng. Chỉ khoảng 8,8% DNVVN, tương đương 80.000 doanh nghiệp, được tiếp cận vốn vay, trong khi tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp lớn lên tới 47,1%. So với năm 2025, tỷ lệ DNVVN tiếp cận vốn còn giảm 0,5 điểm phần trăm.

Không phải doanh nghiệp nhỏ nào cũng rủi ro cao
Việc các tổ chức tín dụng thận trọng với DNVVN không phải không có cơ sở. FiinGroup cho biết năm 2025, tỷ lệ DNVVN đóng cửa lên tới 12,7%, cao hơn đáng kể mức 4,9% của doanh nghiệp lớn. Nếu tính cả nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, tỷ lệ đóng cửa lên tới 22,7%.
Các ngân hàng vì vậy có xu hướng ưu tiên những doanh nghiệp đã hoạt động đủ lâu, có lịch sử kinh doanh và hồ sơ tín dụng rõ ràng. Gần 85% DNVVN đang có vay vốn là những doanh nghiệp đã hoạt động từ 5 năm trở lên; đồng thời, nhóm này cũng có hồ sơ rủi ro tốt hơn đáng kể.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào tuổi đời, quy mô tài sản hay lịch sử tín dụng để quyết định cấp vốn, ngân hàng có thể bỏ qua một phần đáng kể những doanh nghiệp có tiềm năng.
FiinGroup ước tính khoảng 45% DNVVN hoạt động trên 5 năm, có mức rủi ro trung bình và thấp nhưng vẫn chưa tiếp cận vốn vay. Đáng chú ý hơn, khoảng 67.000 doanh nghiệp trong nhóm chưa có nợ vay vừa có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương, vừa ghi nhận tăng trưởng doanh thu dương.
Tăng trưởng nhanh hơn nhưng vẫn đứng ngoài cửa tín dụng
Dữ liệu của FiinGroup cho thấy nhóm DNVVN chưa vay vốn có quy mô tài sản và doanh thu trung vị thấp hơn đáng kể so với nhóm đang vay. Chất lượng dòng tiền cũng có sự khác biệt: 47,8% doanh nghiệp chưa vay có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương, so với 56,4% ở nhóm đang vay.
Nhưng ở chiều ngược lại, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung vị của nhóm chưa vay đạt 15,6%, cao hơn đáng kể mức 9,8% của nhóm đang vay.
FiinGroup đồng thời ghi nhận biên lợi nhuận ròng, ROA và khả năng thanh khoản của nhóm chưa vay tương đối tích cực. Điều đó cho thấy bài toán tín dụng DNVVN không đơn giản là doanh nghiệp “không đủ điều kiện vay”. Một phần vấn đề nằm ở việc ngân hàng và doanh nghiệp chưa gặp nhau trên cùng một nền tảng dữ liệu.
Doanh nghiệp nhỏ thường thiếu báo cáo tài chính chuẩn hóa, dữ liệu kinh doanh phân tán, dòng tiền chưa được thể hiện đầy đủ và chưa có lịch sử tín dụng đủ dài. Trong khi đó, ngân hàng cần những thông tin có thể kiểm chứng để đánh giá khả năng trả nợ. Khi dữ liệu chưa đủ, cách an toàn nhất của tổ chức tín dụng là yêu cầu tài sản bảo đảm hoặc ưu tiên những khách hàng đã có lịch sử tín dụng tốt.
Cần nhìn doanh nghiệp bằng dòng tiền thay vì chỉ nhìn tài sản
Khoảng cách tín dụng hiện nay cho thấy dư địa tăng trưởng ở phân khúc DNVVN còn rất lớn. Nhưng để biến dư địa thành tín dụng thực tế, việc đơn giản là nới điều kiện vay hay tăng hạn mức chưa đủ.
Điểm mấu chốt là thay đổi cách đánh giá doanh nghiệp. Thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp và hồ sơ truyền thống, tổ chức tín dụng có thể khai thác sâu hơn dữ liệu dòng tiền, doanh thu, lịch sử giao dịch, nghĩa vụ thuế và sức khỏe tài chính thực tế của doanh nghiệp.
Ngành thương mại là một ví dụ. FiinGroup thống kê khoảng 275.000 DNVVN trong ngành, sử dụng khoảng 1,2 triệu lao động nhưng chưa đến 10% tiếp cận vốn vay. Biên lợi nhuận gộp trung vị đạt 11,6% và biên lợi nhuận ròng ở mức dương, nhưng chỉ 23,4% doanh nghiệp có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương.
Điều này cho thấy bên cạnh khả năng sinh lời, chất lượng dòng tiền vẫn là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và trả nợ.
FiinGroup cho biết tỷ lệ DNVVN chuyển thành doanh nghiệp lớn chỉ khoảng 0,7-0,9% qua các năm. Đây là một chỉ dấu đáng chú ý về khả năng trưởng thành của khu vực chiếm tới 94% số doanh nghiệp cả nước.
Nếu tín dụng tiếp tục chủ yếu chảy vào những doanh nghiệp đã lớn, có tài sản và lịch sử tín dụng tốt, khoảng cách quy mô giữa DNVVN và doanh nghiệp lớn sẽ khó được thu hẹp.
Ngược lại, nếu hệ thống tài chính nhận diện được những doanh nghiệp đang tăng trưởng, có dòng tiền tốt và mức rủi ro phù hợp, tín dụng có thể trở thành đòn bẩy giúp một bộ phận DNVVN mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ, tăng năng suất và tiến lên nhóm doanh nghiệp lớn.