Công tử Việt SN 1901 từng 'đốt tiền' để lấy lòng mỹ nhân, vung tay mua cả đội du thuyền, ăn chơi nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh, cuối đời sống cơ cực, 'chết không có đất chôn'
Công tử này từng là chủ gánh hát Huỳnh Ký và có màn "đốt tiền" lấy lòng người đẹp nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh.
Cùng với “Công tử Bạc Liêu” Trần Trinh Huy, Lê Công Phước, còn gọi là Bạch công tử, là nhân vật gắn với nhiều câu chuyện về cuộc sống xa hoa của giới con nhà giàu Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.
Lê Công Phước (1901-1950), còn được gọi là Tư Phước, George Phước và Bạch công tử, là con trai thứ tư của Đốc phủ Lê Công Sủng, một trong những người giàu có ở khu vực Mỹ Tho - Gò Công thời bấy giờ.

Khi còn trẻ, cậu Tư Phước có dáng vẻ thư sinh, nước da trắng trẻo. Vốn sinh ra trong một gia đình giàu có nên ông sớm được tiếp xúc với cuộc sống của tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ. Lớn lên, ông được bố cho sang Pháp du học với mong muốn sẽ học hành thành tài, mở mang kiến thức.
Tuy nhiên, thay vì tập trung học tập, cậu Tư Phước lại dành nhiều thời gian giao du với những “cậu ấm, cô chiêu” và dần sa vào các cuộc vui. Từ đó, tên tuổi Tư Phước dần gắn với hình ảnh một công tử có lối sống phóng túng và “tiêu tiền như rác”.
Sau khi về nước, cậu Tư Phước vẫn không chịu tu chí làm ăn. Ngoài những lần vung tiền ăn chơi, con trai Đốc phủ Lê Công Sủng còn khiến người đời chú ý bởi lối sống đào hoa, phong lưu.
Thời trẻ, cậu Tư Phước từng có mối tình với Phùng Há, nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng thời bấy giờ. Ông sẵn sàng chi tiền để đầu tư cho cải lương, sau này thành lập gánh hát tên Huỳnh Ký. Còn có giai thoại nói rằng, cậu Tư Phước chi tiền sắm cả đội du thuyền chỉ để phục vụ việc di chuyển cho gánh hát và đội bóng của mình.
Về sau, ông lại sa đà vào những cuộc chơi, gánh hát do một tay bà Phùng Há lo liệu, chẳng bao lâu thì giải tán. Mối quan hệ của cả hai cũng chấm dứt từ đó.

Chuyện tình với “nữ hoàng cải lương” cũng chưa sốc bằng màn so tài cùng cậu Ba Huy - Trần Trinh Huy để lấy lòng cô Ba Trà - mỹ nhân nổi danh thời kỳ đó. Người ta kể rằng, mỗi khi ông tặng cô Ba Trà một món quà, cậu Ba Huy lại tìm cách mua một món quà khác có giá trị cao hơn để tặng người đẹp.
Sau này, cả hai còn so tài nấu trứng/chè bằng tiền giấy. Theo lời kể, để nấu chín nồi chè có 1kg đậu xanh trong khoảng một giờ, mỗi người phải đốt gần 100 tờ giấy bạc. Nếu cậu Ba Huy sử dụng toàn những tờ có mệnh giá từ 50 đồng trở lên thì chí ít ông cũng phải đốt ít nhất khoảng 5.000 đồng Đông Dương. Ở thời điểm đó, số tiền này có thể mua khoảng 3.000 giạ lúa.
Cuộc sống chỉ ăn chơi hưởng lạc khiến tài sản mà gia đình để lại cho cậu Tư Phước nhanh chóng cạn kiệt. Cuối đời sống trong cơ cực, nghèo khổ. Năm 1950, ông qua đời và được đưa về an táng trên phần đất trước kia của gia đình nhưng lúc đó đã đổi chủ. Đến năm 2005, mộ của cậu Tư Phước mới được xây lại.

Ngoài những giai thoại cuộc đời xa hoa, trụy lạc, khi nhắc đến cậu Tư Phước, người ta còn nhớ tới một dinh thự mang tên ông với kiến trúc độc đáo. Dinh thự này nằm trên khu đất rộng khoảng 4.000m², từng được xem là một trong những dinh thự bề thế của Nam Kỳ lục tỉnh lúc bấy giờ.
Dinh thự có 6 phòng thông nhau, với trần và cột được chạm trổ tinh xảo. Ở gian trước có 4 bức tranh tường, mỗi bức rộng khoảng 2,4m², có chạm khắc hình ảnh chim muông, hoa lá và cảnh quan miền sông nước.
Tường dày và mái lớn có tác dụng chống nóng; thiết kế nhà vừa hạn chế ánh nắng vừa bảo đảm thông gió. Cách tổ chức không gian này cho thấy sự kết hợp giữa phong cách kiến trúc phương Tây với yêu cầu thích ứng khí hậu của vùng Nam Bộ.

Trải qua gần một thế kỷ tồn tại và nhiều lần được trùng tu, ngôi nhà của cậu Tư Phước - Bạch công tử vẫn lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc. Hiện, nơi đây còn lưu giữ 5 bức phù điêu chạm trổ, 4 bức bích họa cùng nhiều chi tiết trang trí nội thất, hoa văn trên đầu cột và cửa vòm. Năm 2016, nhà Bạch công tử được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Từ những giai thoại về một thời ăn chơi xa hoa đến những giá trị kiến trúc còn được lưu giữ, câu chuyện về Tư Phước - Lê Công Phước không chỉ gắn với hình ảnh một công tử nổi tiếng ở Nam Kỳ xưa, mà còn cho thấy một lát cắt về đời sống của tầng lớp giàu có miền Nam trong những năm đầu thế kỷ XX.