Di dời gần 7.000 hộ dân, dự kiến chi 78.000 tỷ tiền bồi thường, tái định cư cho tuyến vành đai lớn nhất miền Bắc
Tuyến Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dự kiến di dời gần 7.000 hộ dân, với khoảng 78.140 tỷ đồng dành cho bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Chính phủ vừa có Tờ trình đề nghị Quốc hội xem xét quyết định chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Theo báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, dự án có tổng diện tích đất chiếm dụng sơ bộ khoảng 4.010 ha, trong đó có 1.776 ha đất trồng lúa, 464 ha đất ở, 209 ha đất rừng, 9,5 ha đất quốc phòng và khoảng 1.550 ha đất khác.
Dự án dự kiến bố trí tái định cư cho khoảng 6.970 hộ dân, với chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khoảng 78.140 tỷ đồng. Trong đó, phần tuyến chính cao tốc chiếm khoảng 49.850 tỷ đồng, phần còn lại dành cho đường song hành và các hạng mục liên quan.
Theo đề xuất của Chính phủ, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ được tách thành một dự án thành phần độc lập, giao các địa phương nơi tuyến đi qua tổ chức thực hiện nhằm đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, tạo điều kiện triển khai xây dựng ngay khi bố trí được nguồn vốn.
Đối với tuyến chính cao tốc, ngân sách trung ương dự kiến đảm nhận kinh phí giải phóng mặt bằng. Trong khi đó, phần đường song hành, dải cây xanh, vỉa hè và công tác giải phóng mặt bằng các hạng mục này sẽ do ngân sách địa phương bố trí theo khả năng cân đối vốn.
Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương chủ động xác định phạm vi, quy mô đầu tư đường song hành trên cơ sở điều kiện ngân sách, đồng thời ưu tiên bố trí vốn trung hạn để giải phóng mặt bằng và xây dựng các hạng mục thuộc trách nhiệm địa phương.
Theo Tờ trình số 442/TTr-CP, dự án có điểm đầu trùng điểm cuối tại vị trí tương ứng Km367+100 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận xã Yên Bài, TP. Hà Nội. Tuyến đường có tổng chiều dài khoảng 349 km, đi qua 7 địa phương gồm TP. Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, TP. Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.
Đây là tuyến vành đai có quy mô lớn nhất miền Bắc, được đề xuất đầu tư theo hình thức đầu tư công với quy mô hoàn chỉnh 6 làn xe cao tốc theo quy hoạch. Tuyến chính được thiết kế với tốc độ 100-120 km/h; hai bên bố trí đường song hành 2 làn xe có tốc độ 60-80 km/h, cùng hệ thống đường gom có tốc độ tối thiểu 20 km/h. Trong quá trình triển khai, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan chủ quản tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để lựa chọn phương án đầu tư phù hợp.
Sơ bộ tổng mức đầu tư toàn bộ dự án khoảng 288.268 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 215.190 tỷ đồng từ ngân sách trung ương để đầu tư tuyến chính cao tốc và khoảng 73.070 tỷ đồng từ ngân sách địa phương dành cho đường song hành cùng các hạng mục theo quy hoạch.
Theo phương án Chính phủ trình Quốc hội, ngân sách trung ương được đề xuất bố trí để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng tuyến chính cao tốc; ngân sách địa phương thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng đường song hành, dải cây xanh, vỉa hè theo quy hoạch.
Sau khi đánh giá các phương án huy động vốn, phương án đầu tư công kết hợp thu phí sau khi hoàn thành được đánh giá phù hợp hơn. Với mức phí tương đương các tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đang khai thác, dự án được ước tính có thể thu khoảng 121.560 tỷ đồng trong 20 năm, tạo nguồn lực để hoàn trả ngân sách và tái đầu tư hạ tầng.
Về tiến độ, theo phương án đầu tư công, trước mắt sẽ triển khai 116 km tuyến chính cao tốc từ cầu Thái Hà đến nút giao cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn với tổng mức đầu tư khoảng 77.000 tỷ đồng, nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 59.700 tỷ đồng.
Theo phương án Chính phủ trình Quốc hội, các đoạn tuyến được bố trí vốn dự kiến cơ bản hoàn thành trong năm 2030 và đưa vào khai thác từ năm 2031; các đoạn còn lại sẽ tiếp tục chuẩn bị đầu tư trong giai đoạn 2031-2035, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035. Theo kế hoạch sơ bộ, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2026-2027.

Những đoạn đã cân đối đủ nguồn vốn sẽ khởi công từ cuối năm 2027, cơ bản hoàn thành vào năm 2030 và đưa vào khai thác từ năm 2031. Dự án sẽ được phân chia thành các dự án thành phần gồm giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng đường song hành và đầu tư xây dựng tuyến chính cao tốc.
Đáng chú ý, tại Tờ trình số 442/TTr-CP, Chính phủ kiến nghị Quốc hội cho phép dự án được áp dụng 10 cơ chế, chính sách đặc biệt để triển khai. Trong đó, có 8 cơ chế, chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại các dự án quan trọng quốc gia trước đây và 2 cơ chế, chính sách được đề xuất áp dụng riêng cho dự án.
Đối với chính sách thứ 9, Chính phủ đề xuất cơ chế đặc thù về bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất. Theo Chính phủ, quá trình triển khai các dự án tương tự như đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội phát sinh vướng mắc khi nhiều doanh nghiệp bị thu hồi toàn bộ hoặc phần lớn diện tích đất sản xuất, trong khi phần diện tích còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục hoạt động. Do đó, các doanh nghiệp có nhu cầu được địa phương bố trí địa điểm mới để tái lập cơ sở sản xuất.
Tuy nhiên, nếu việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tại khu vực bố trí địa điểm mới phải thực hiện theo trình tự của một dự án sản xuất, kinh doanh độc lập sẽ kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao mặt bằng của dự án.
Vì vậy, Chính phủ đề xuất cho phép các địa phương tổ chức thu hồi đất, đầu tư hạ tầng tại khu đất tái bố trí cho doanh nghiệp bị di dời; toàn bộ kinh phí thu hồi đất và đầu tư hạ tầng được tính vào dự án thành phần bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.