Tài sản Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam biến động lớn ngay trước khi bước sang mô hình mới
Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam ghi nhận doanh thu 6 tháng đầu năm hơn 4.053 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế gần 197 tỷ đồng.
Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (DSVN) vừa công bố báo cáo tài chính nửa đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu thuần hợp nhất đạt 4.053 tỷ đồng, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Dù quy mô doanh thu đi xuống, lợi nhuận gộp vẫn tăng 6,5% lên 680 tỷ đồng.
Sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt khoảng 205 tỷ đồng, tăng gần 12% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt gần 197 tỷ đồng, tăng 12,6%.
Bức tranh tài chính của DSVN có sự thay đổi đáng chú ý ở quy mô tài sản. Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản hợp nhất đạt 8.153 tỷ đồng, giảm hơn 63% so với mức 22.294 tỷ đồng đầu năm. Trong đó, tài sản sản cố định giảm mạnh nhất, từ 16.279 tỷ đồng về 1.716 tỷ đồng.
Hiện tại, tài sản ngắn hạn đạt khoảng 5.089 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất (62%). Trong đó, tiền và các khoản tương đương tiền ở mức 982 tỷ đồng, tăng 21% so với đầu năm; tiền gửi ngắn hạn 944 tỷ đồng.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả của DSVN hơn 5.449 tỷ đồng; còn lại là vốn chủ sở hữu hơn 2.703 tỷ đồng.

Những số liệu trên được ghi nhận trước khi DSVN bước sang mô hình mới. Từ ngày 11/8/2026, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam trên cơ sở Nghị định 366/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Đề án cơ cấu lại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.
Sau chuyển đổi, Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Công ty mẹ là Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn, với vốn điều lệ hơn 3.104 tỷ đồng.
Theo định hướng mới, doanh nghiệp sẽ hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế đa ngành, lấy vận tải đường sắt, xây dựng - bảo trì, công nghiệp và dịch vụ đường sắt làm các lĩnh vực cốt lõi.
Mô hình mới cho phép doanh nghiệp thực hiện 110 ngành nghề, trong đó bổ sung các lĩnh vực như xây dựng công trình dân dụng, cơ khí, dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lịch, đào tạo giáo dục, bán lẻ và logistics.
Định hướng này được đặt trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị đầu tư nhiều dự án đường sắt quy mô lớn, trong đó có tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến kết nối cảng biển, cửa khẩu và các tuyến phục vụ vận tải liên vận quốc tế.