TS Nguyễn Đức Hiển: Tăng trưởng 3 quý đầu năm cao nhưng đặt ra nhiều áp lực
TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng dù kinh tế Việt Nam đạt kết quả tăng trưởng tích cực trong 9 tháng đầu năm 2026, mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian tới đặt ra áp lực lớn về huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Phát biểu tại Hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn, Khơi thông nguồn lực, Thúc đẩy tăng trưởng” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức sáng 22/10 tại Hà Nội, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đã được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương.
Cùng với việc đánh giá tình hình kinh tế năm 2026 và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế năm 2027, vấn đề quan trọng cần giải quyết là nguồn lực tài chính sẽ được huy động từ đâu và sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, tổng nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn đáng kể so với quy mô nguồn vốn huy động trong giai đoạn 2021-2025. Điều này cho thấy yêu cầu huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển trong 5 năm tới sẽ lớn hơn nhiều so với giai đoạn trước.

Trong cơ cấu vốn, vốn đầu tư từ khu vực nhà nước trong giai đoạn 2026-2030 được ước tính khoảng 12,5 triệu tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công khoảng 8,3-8,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, vốn đầu tư ngoài nhà nước dự kiến tăng từ khoảng 9,8 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 20,4 triệu tỷ đồng trong giai đoạn tiếp theo. Vốn đầu tư của khu vực FDI cũng được kỳ vọng tăng mạnh, từ khoảng 2,8 triệu tỷ đồng lên khoảng 5,6 triệu tỷ đồng.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo đó dự kiến tăng từ khoảng 11,3 triệu tỷ đồng trong 5 năm trước lên khoảng 20 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030. Quy mô nguồn lực cần huy động, bao gồm cả nguồn lực ngân sách và ngoài ngân sách, đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những giải pháp mới để mở rộng khả năng huy động vốn cho nền kinh tế.
Nhìn về bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế, TS Nguyễn Đức Hiển đánh giá kinh tế Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt nhiều kết quả tích cực, với tăng trưởng GDP đạt 9,01%. Riêng quý III, tăng trưởng đạt gần 10%, cho thấy đà tăng trưởng ở mức cao. Tuy nhiên, kết quả này cũng đi kèm những áp lực đáng kể đối với việc cân đối nguồn vốn, điều hành chính sách tiền tệ và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Một trong những vấn đề đáng chú ý là áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng khi nhu cầu huy động vốn và cho vay tăng lên.
"Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đạt khoảng 9,23%, trong khi đến cuối năm 2025, mức tăng trưởng tín dụng được nêu ở khoảng 10,5%. Đáng lưu ý, khoảng 80% nguồn vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi khoảng 5% tín dụng tập trung vào một nhóm lĩnh vực", ông Hiển khẳng định.
Đánh giá về các chính sách hỗ trợ tăng trưởng trong thời gian quan, Phó ban Chính sách Chiến lược Trung ương khẳng định thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã phối hợp điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát lạm phát.
"Lạm phát 9 tháng đầu năm ở mức khoảng 4,52%, cao hơn một số mục tiêu đặt ra nên hiện nay yêu cầu quan trọng vẫn là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng", TS Nguyễn Đức Hiển cho hay.
Theo lãnh đạo Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, để thúc đẩy tăng trưởng thì vốn là điều không thể thiếu nhưng nếu tiếp tục đặt phần lớn gánh nặng huy động nguồn lực lên hệ thống ngân hàng, áp lực đối với kênh dẫn vốn này sẽ ngày càng lớn.
"Vì vậy, ở hội thảo hôm nay, tôi mong muốn các chuyên gia sẽ thảo luận và gợi mở các giải pháp đa dạng hóa nguồn lực, đồng thời cải thiện khả năng huy động vốn của hệ thống tài chính", TS Nguyễn Đức Hiển gợi mở vấn đề.
Theo Phó ban Chính sách Chiến lược Trung ương, một trong những đề xuất được đặt ra là đẩy nhanh việc tăng vốn cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn để các ngân hàng, bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, huy động vốn từ nước ngoài.
"Tuy nhiên, xin được lưu ý chi phí vay vốn quốc tế hiện ở mức cao, trong khi việc điều hành chính sách tiền tệ luôn phải cân đối giữa nhiều mục tiêu khác nhau", ông Hiển nói và nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng.
Theo ông, đây là vấn đề cần được cơ quan quản lý và các chuyên gia tiếp tục đánh giá để tìm ra giải pháp phù hợp, hạn chế những áp lực phát sinh trong quá trình huy động vốn.
Phát triển thị trường vốn, tháo gỡ điểm nghẽn huy động nguồn lực
Bên cạnh hệ thống ngân hàng, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, cần đóng vai trò lớn hơn trong việc huy động vốn cho nền kinh tế. Thị trường cổ phiếu và trái phiếu cần tiếp tục được phát triển, đi cùng với những cải cách thực chất và đồng bộ.
Theo ông, Việt Nam đã có đề án cải cách thị trường tài chính với nhiều nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn cuối năm 2026, năm 2027 và cả giai đoạn 2026-2030. Vấn đề hiện nay là xác định những điểm nghẽn lớn cần ưu tiên xử lý, bảo đảm các giải pháp được triển khai đồng bộ thay vì chỉ dừng lại ở chủ trương.
"Việc thị trường chứng khoán được nâng hạng không đồng nghĩa với việc mọi vấn đề đã được giải quyết. Nếu thiếu cải cách thực chất và triển khai không đồng bộ, thị trường vẫn có thể đối mặt với những đánh giá bất lợi, gây tâm lý bất ổn cho nhà đầu tư và ảnh hưởng đến uy tín cũng như triển vọng phát triển dài hạn", lãnh đạo Ban Chính sách Chiến lược Trung ương khẳng định.
Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, trong việc hoàn thiện cơ chế thị trường. Một trong những nội dung cần quan tâm là tạo điều kiện để nhà đầu tư tiếp cận các công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối, đồng thời bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính.

Theo TS Nguyễn Đức Hiển, bài toán đặt ra là làm thế nào để các ngân hàng kiểm soát được rủi ro nhưng vẫn mở rộng cơ sở nhà đầu tư trên thị trường. Đồng thời, cần tìm cách khơi thông nguồn vốn từ các quỹ đầu tư và các tổ chức trong xã hội, đưa nguồn tiền đang có vào thị trường tài chính, qua đó tạo thêm nguồn lực cho nền kinh tế.
Ông cũng đặt vấn đề về việc phát triển ngành công nghiệp quỹ đầu tư, trong bối cảnh Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định với các quốc gia và đối tác chiến lược, đồng thời có những điều kiện thuận lợi hơn về môi trường đầu tư. Theo ông, cần có chính sách phù hợp để thu hút các nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế, tham gia sâu hơn vào thị trường Việt Nam.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để thị trường phát triển lành mạnh, khắc phục những lỗ hổng từng bộc lộ trong quá trình vận hành. Các vấn đề về xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin và bảo vệ nhà đầu tư cần được quan tâm, qua đó củng cố niềm tin thị trường.
Ông nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư phải đi cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của các bên trong quan hệ vay nợ, mua bán. Nhà đầu tư cần được cung cấp thông tin đầy đủ, trong khi cơ chế quản lý phải bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và có khả năng thực thi.
Một vấn đề khác được ông Hiển đề cập là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Qua khảo sát thực tế, một số mô hình kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bước đầu cho thấy hiệu quả trong giai đoạn thí điểm. Theo ông, cần tiếp tục nghiên cứu những hình thức phù hợp để giúp nhóm doanh nghiệp này tiếp cận nguồn tín dụng thuận lợi hơn, giảm các khâu trung gian và chi phí phát sinh.
Đặc biệt, đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khó khăn không chỉ nằm ở khả năng tiếp cận tín dụng mà còn ở việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm. Dù các quy định pháp luật đã có những điều chỉnh liên quan, quá trình triển khai trên thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc, nhất là trong định giá tài sản trí tuệ.
Vì vậy, cần làm rõ đâu là điểm nghẽn xuất phát từ quy định của ngân hàng, đâu là vấn đề về tính minh bạch và đâu là khó khăn trong cơ chế định giá tài sản. Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan, thay vì để doanh nghiệp tự xoay xở với những vướng mắc chưa có cơ chế xử lý cụ thể.
Khơi thông vốn quốc tế, nguồn lực đất đai và các dự án tồn đọng
Liên quan đến huy động vốn quốc tế, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết một số tổ chức tài chính đang nghiên cứu cơ chế mới nhằm kết hợp các nguồn lực đầu tư, trong đó có phương án huy động nguồn vốn quốc tế cho phát triển hạ tầng. Các mô hình được đề xuất có thể kết hợp nhiều hình thức đầu tư, với sự tham gia của khu vực tư nhân và Nhà nước.
Theo ông, Việt Nam có nhu cầu lớn về vốn cho phát triển hạ tầng, trong khi việc thu hút nguồn lực quốc tế đòi hỏi cơ chế đủ rõ ràng và có khả năng triển khai nhanh. Nhà nước có thể cần tham gia chia sẻ một phần rủi ro để tạo điều kiện thu hút nhà đầu tư quốc tế, nhưng quá trình nghiên cứu, xử lý và hoàn thiện thủ tục hiện vẫn kéo dài. Ông dẫn ví dụ về một quy trình có thể mất khoảng 8 tháng, cho thấy áp lực cải thiện tiến độ xử lý công việc và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan.
Cùng với đó, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng chính quyền địa phương cần chủ động hơn trong việc tìm kiếm và huy động nguồn vốn phục vụ phát triển. Các địa phương không nên chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách hoặc tiến độ giải ngân từ cấp trên, mà cần nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn quốc tế và những cơ chế phù hợp với điều kiện thực tế.
Muốn vậy, cần làm rõ những vướng mắc về quy chế, cơ chế vay vốn và trách nhiệm của các cấp có liên quan. Việc tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn phải đi cùng với cơ chế kiểm soát rủi ro và bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với thị trường chứng khoán, ông Hiển đề nghị tiếp tục lắng nghe ý kiến chuyên gia về phát triển hàng hóa trên thị trường, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao thanh khoản, tạo điều kiện cho thị trường phát triển bền vững và tăng khả năng huy động vốn trung, dài hạn.
Ngoài các kênh vốn chính thức, nguồn lực từ đất đai, các dự án tồn đọng và nguồn vốn trong dân cũng là những vấn đề cần được quan tâm. Theo ông, Chính phủ đã có những động thái tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng và xây dựng cơ chế đặc biệt để xử lý những vướng mắc. Tuy nhiên, cần tiếp tục đánh giá những vấn đề còn tồn tại để khơi thông nguồn lực, đưa các dự án có khả năng triển khai trở lại hoạt động và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.
Đối với nguồn vốn trong dân, ông Hiển cho rằng việc huy động phải gắn với lợi ích thực tế của người có tiền. Chính sách cần tạo được niềm tin, bảo đảm quyền lợi và giúp người dân nhìn thấy hiệu quả khi tham gia đầu tư phát triển, thay vì chỉ dừng lại ở lời kêu gọi đóng góp nguồn lực.
Từ những vấn đề trên, TS Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh hai yêu cầu lớn cần được tập trung thảo luận. Thứ nhất là làm thế nào để tăng cường huy động nguồn lực cho nền kinh tế, mở rộng các kênh dẫn vốn và khai thác hiệu quả những nguồn lực đang tồn đọng. Thứ hai là làm thế nào để sử dụng nguồn vốn huy động được một cách hiệu quả, đồng thời xác định vai trò kiểm soát và điều tiết phù hợp của Nhà nước.
Đánh giá cao Hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp cùng Hệ sinh thái Người Quan Sát tổ chức, TS Nguyễn Đức Hiển đề nghị các chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi cụ thể về những điểm nghẽn trong phối hợp giữa các bộ, ngành, bởi các vướng mắc trong thực thi có thể làm chậm quá trình huy động vốn và triển khai dự án.
"Qua đó, các ý kiến tại hội thảo sẽ là cơ sở để Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nghiên cứu, tổng hợp kiến nghị phục vụ công tác tham mưu, xây dựng chính sách và đề xuất giải pháp với Chính phủ", Phó ban Kinh tế Trung ương bày tỏ mong muốn.
Ban Tổ chức xin trân trọng cảm ơn các đơn vị đồng hành, các cơ quan báo chí và các đối tác tài chính - doanh nghiệp: Techcombank, DOJI, MIK Group, OCB, BIM Group, Đông Tây Land, MB, Petrovietnam, Petrolimex, Vinaconex…
Sự ủng hộ và đồng hành của Quý vị là nguồn lực vô cùng quan trọng để kiến tạo nên một diễn đàn thảo luận chất lượng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển bứt phá của nền kinh tế Việt Nam.