TS Nguyễn Trí Hiếu chỉ ra kịch bản đáng lo khi ngân hàng được ‘nới room’ cho vay
Đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% đang mở ra kỳ vọng khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Trí Hiếu, phía sau dư địa tín dụng lớn hơn là những rủi ro thanh khoản và nợ xấu không thể xem nhẹ.
Nền kinh tế cần vốn, ngân hàng cần thêm dư địa
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến về việc điều chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện nay lên 40%.
Theo chuyên gia kinh tế TS Nguyễn Trí Hiếu, đề xuất này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng mới.
Ông cho biết, nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, dòng vốn tín dụng phải được lưu thông mạnh mẽ hơn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Trong khi đó, cơ cấu huy động của hệ thống ngân hàng hiện nay lại đang mất cân đối. Khoảng 70-80% tiền gửi là ngắn hạn, còn tiền gửi trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20-30%.
"Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn thì rất an toàn, nhưng lại tạo ra điểm nghẽn cho nền kinh tế khi nhu cầu vốn đầu tư đang rất lớn", TS Nguyễn Trí Hiếu nhận định.
Theo ông, việc nâng tỷ lệ từ 30% lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm nguồn lực để cho vay, mở rộng khả năng cung ứng vốn cho doanh nghiệp, đồng thời giảm áp lực phải tăng lãi suất huy động nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn.
Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng trưởng tiền gửi, đây được xem là giải pháp giúp tháo gỡ một trong những nút thắt của thị trường vốn.

Cứu tăng trưởng hay gia tăng áp lực cho ngân hàng?
Tuy nhiên, vị chuyên gia cho rằng mặt trái của chính sách này nằm ở rủi ro thanh khoản và nguy cơ mất an toàn hệ thống nếu nợ xấu gia tăng.
Ông phân tích, ngân hàng sử dụng tiền gửi ngắn hạn của người dân để cho vay trung và dài hạn. Trong điều kiện bình thường, dòng tiền cho vay sẽ quay trở lại ngân hàng thông qua việc khách hàng trả nợ đúng hạn.
Nhưng nếu các khoản vay phát sinh nợ xấu, dòng tiền bị đứt gãy, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản.
"Khi khách hàng đến hạn rút tiền mà dòng vốn cho vay chưa thu hồi được, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động để hút vốn mới về trả cho các khoản tiền gửi cũ. Đây chính là rủi ro hệ thống", TS Nguyễn Trí Hiếu cảnh báo.
Theo ông, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn.
"Nếu ngân hàng dùng 50-60% vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, khi nợ xấu xuất hiện, áp lực thanh khoản sẽ cực kỳ lớn", ông nói.
Đó cũng là lý do trong nhiều năm qua, cơ quan quản lý luôn duy trì tỷ lệ này ở mức tương đối thấp nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng.
"Nếu quản trị rủi ro không tốt, nên giảm xuống 20%"
Điểm đáng chú ý trong quan điểm của TS Nguyễn Trí Hiếu là dù ủng hộ việc nâng tỷ lệ lên 40%, ông không coi đây là một quyết định có thể thực hiện bằng mọi giá.
"Tôi rất đắn đo khi xem xét có nên ủng hộ chính sách này hay không", ông thẳng thắn chia sẻ.
Sau khi cân nhắc giữa lợi ích thúc đẩy tăng trưởng và rủi ro an toàn hệ thống, ông đi đến kết luận rằng có thể ủng hộ việc nâng tỷ lệ từ 30% lên 40%, nhưng phải đi kèm các điều kiện kiểm soát chặt chẽ.
Theo đó, các ngân hàng cần tăng cường giám sát chất lượng tín dụng, theo dõi sát tiến độ trả nợ của khách hàng, thường xuyên báo cáo tình trạng dòng tiền và thanh khoản cho cơ quan quản lý.
Đồng thời, hệ thống quản trị rủi ro phải được nâng cấp, áp dụng các biện pháp mạnh đối với những khoản vay có dấu hiệu phát sinh nợ xấu.
"Nếu các ngân hàng quản lý rủi ro chặt chẽ hơn, tôi có thể ủng hộ việc nâng tỷ lệ lên 40%", ông nói.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng đưa ra một tuyên bố đáng chú ý: "Nếu các ngân hàng không có hệ thống quản lý rủi ro đủ tốt thì tỷ lệ này càng thấp càng tốt. Thậm chí thay vì nâng lên 40%, thì nên giảm từ 30% xuống 20%".
