Bài học từ Nhật Bản, Hàn Quốc về thoát bẫy thu nhập trung bình: Việt Nam không thể chỉ dựa vào lao động giá rẻ để giàu lên
Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã chạm ngưỡng thu nhập trung bình cao nhưng vẫn đứng trước bài toán lớn về năng suất và công nghệ.

Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế nghèo, thiếu lương thực sang nền kinh tế hội nhập sâu rộng.
Đến năm 2025, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 510 tỷ USD, thuộc nhóm 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thu nhập quốc dân bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam chạm ngưỡng nhóm nước có thu nhập trung bình cao.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước thách thức vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” và phải thay đổi mô hình tăng trưởng đ
Bẫy thu nhập trung bình và khoảng cách 9.000 USD
Phân tích về bẫy thu nhập trung bình trong talkshow "Nhật Bản, Hàn Quốc đã làm gì để vươn lên thành nước giàu? Việt Nam học được gì?", TS. Bùi Ngọc Sơn - chuyên gia kinh tế đến từ Viện nghiên cứu chiến lược kinh tế - cho rằng đây là tình trạng một quốc gia đã khai thác phần lớn lợi thế từ tài nguyên và lao động giá rẻ nhưng chưa thể nâng cấp công nghệ để tạo ra động lực tăng năng suất mới.
Theo phân loại quốc tế, nhóm thu nhập trung bình cao nằm trong khoảng 5.000-14.000 USD/người. Với mức khoảng 5.000 USD hiện nay, Việt Nam mới chạm ngưỡng này và còn khoảng cách khoảng 9.000 USD để tiến tới nhóm nước thu nhập cao.
Trung Quốc hiện đạt khoảng 12.000 USD/người nhưng vẫn phải tiếp tục nỗ lực để vượt qua giới hạn này. Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, nếu không tạo được đột phá về công nghệ, nền kinh tế có nguy cơ trì trệ, mất dần lợi thế cạnh tranh và mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Năng suất lao động thấp là một trong những cảnh báo rõ nhất đối với Việt Nam. TS. Bùi Ngọc Sơn dẫn số liệu cho thấy năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng 11% của Singapore, 35% của Malaysia và 65% của Thái Lan.
Đáng chú ý, các lĩnh vực công nghệ cao tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay khu vực doanh nghiệp FDI. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước hầu như chưa làm chủ công nghệ nguồn và vẫn tập trung ở các công đoạn gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi cung ứng.
TS. Bùi Ngọc Sơn phân tích rằng lợi thế về lao động giá rẻ và tài nguyên đất đai của Việt Nam đã được khai thác đến giới hạn. Nếu chi phí lao động tăng nhưng trình độ công nghệ không được nâng lên, các tập đoàn FDI có thể dịch chuyển nhà máy sang những quốc gia có chi phí thấp hơn như Campuchia hoặc Myanmar.
Khi đó, Việt Nam sẽ mất đi một trong những lợi thế quan trọng để giữ chân doanh nghiệp FDI và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình sẽ gia tăng.

Bài học từ Nhật Bản, Hàn Quốc về vai trò kiến tạo của Nhà nước
Để tìm hướng vượt bẫy thu nhập trung bình, TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng Việt Nam cần nhìn nhận sâu sắc vai trò kiến tạo của Nhà nước trong định hướng và hỗ trợ nguồn lực cho khu vực tư nhân, từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc.
Tại Nhật Bản, sau khoảng 200 năm đóng cửa dưới thời Tokugawa, đất nước này phải đến thời Minh Trị mới thay đổi căn bản triết lý phát triển. Nhật Bản nhận ra tầng lớp thương nhân và khu vực tư nhân giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thịnh vượng quốc gia, từ đó chuyển từ tư duy xem nhẹ thương nhân sang khuyến khích khu vực tư nhân tìm kiếm lợi nhuận.
Thông qua Bộ Công nghiệp (MITI), Nhà nước Nhật Bản hỗ trợ khu vực tư nhân hình thành những ngành mũi nhọn, trong đó có bán dẫn. Nhà nước thành lập các phòng thí nghiệm, mua bản quyền sáng chế nước ngoài và tập hợp nhân tài từ những doanh nghiệp lớn như Toshiba, Nissan để nghiên cứu chung.
Khi tạo ra được chip bán dẫn, Nhà nước bàn giao thành quả cho doanh nghiệp tư nhân phát triển sản phẩm thương mại và cạnh tranh trên thị trường, sau đó rút lui.
Tương tự Nhật Bản, Hàn Quốc vào năm 1970 là một quốc gia nghèo tương đồng với Việt Nam nhưng đến năm 1996 đã trở thành nước phát triển.
Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, điểm mấu chốt là Hàn Quốc đã làm chủ tới 50 công nghệ nguồn trong các lĩnh vực như đóng tàu, điện tử, ô tô, dệt may và hóa chất, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Kế hoạch Hàn Quốc và các tập đoàn tư nhân (Chaebol).
Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, đất đai, lao động, mua bản quyền công nghệ và giáo dục. Trong thập niên 1990, Chính phủ thiết lập các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp mua bản quyền công nghệ, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp trích một phần lợi nhuận để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), thay vì sử dụng cho tiêu dùng cá nhân hay mua sắm xe sang.
Việc tập trung phát triển và làm chủ công nghệ nguồn giúp những tập đoàn như Hyundai hay Lucky Goldstar (LG) từng bước làm chủ công nghệ và xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh toàn cầu.
Ngược lại, Malaysia và Thái Lan là những trường hợp điển hình về việc không thể nâng cấp công nghệ.
TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng Malaysia đưa ngành bán dẫn về nước từ khá sớm nhưng cuối cùng vẫn chủ yếu dừng ở khâu lắp ráp, đóng gói có giá trị thấp, chưa đầu tư bài bản để làm chủ những công đoạn công nghệ cao hơn.
Trong khi đó, Thái Lan mắc phải tình trạng đầu cơ khi sử dụng nguồn tiền kiếm được để đầu tư vào bất động sản và vay nợ nước ngoài để phục vụ tiêu dùng, thể hiện sự xa hoa. Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, những giá trị tích lũy bị cuốn trôi.
Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, đến nay Thái Lan vẫn chưa có sản phẩm công nghệ mang thương hiệu quốc gia và chưa đào tạo được những nhà công nghệ thực thụ.
Ông cho rằng cả Malaysia và Thái Lan đều gặp điểm nghẽn do hạn chế về thể chế và chưa đầu tư đúng mức cho mục tiêu tự chủ công nghệ.
Cải cách thể chế để tạo không gian cho khu vực tư nhân
Để giải quyết bài toán cốt lõi, TS. Bùi Ngọc Sơn khẳng định yếu tố quyết định nhất đối với Việt Nam hiện nay là cải cách thể chế, tạo môi trường thông thoáng, tôn trọng quy luật thị trường và thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển.
Theo ông, lịch sử cho thấy khu vực tư nhân là nền tảng tạo ra của cải vật chất, công nghệ và việc làm cho xã hội. Khi Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân phát triển, người dân có thêm việc làm, đất đai được khơi thông, doanh nghiệp có điều kiện sở hữu công nghệ, GDP tăng và nguồn thu thuế cũng tăng theo.
Vai trò của Nhà nước, theo quan điểm này, là kiến tạo môi trường và hỗ trợ nguồn lực thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất cụ thể.
Bên cạnh đó, chính sách thu hút FDI cũng cần chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu. Việt Nam không nên thu hút FDI một cách ồ ạt mà cần ưu tiên và có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với những doanh nghiệp đưa công nghệ cao vào Việt Nam.
Một giải pháp then chốt khác được TS. Bùi Ngọc Sơn đề xuất là cải cách toàn diện hệ thống giáo dục, đào tạo và môi trường nghiên cứu khoa học.
Theo ông, giáo dục phổ thông cần giúp học sinh sau khi tốt nghiệp có kỹ năng thực hành phục vụ sản xuất. Ở bậc đại học và các viện nghiên cứu, cần xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh, đồng thời bảo vệ nghiêm ngặt quyền tác giả để các nhà khoa học có thể làm giàu chính đáng từ những phát minh của mình.
TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc trong giai đoạn đầu cải cách, mở cửa. Khi đó, Trung Quốc thúc đẩy tự do khoa học, mở rộng giao lưu tri thức quốc tế, cử du học sinh ra nước ngoài và tạo điều kiện tiếp nhận tài trợ nghiên cứu từ nước ngoài để tiếp thu công nghệ thế giới.
Theo ông, chỉ khi khoa học, công nghệ phát triển dựa trên thị trường và tự do học thuật, Việt Nam mới có thể xây dựng đội ngũ nhà công nghệ cùng lực lượng lao động tay nghề cao, đủ khả năng vận hành máy móc hiện đại và nâng cao năng suất lao động.
Đối với xu hướng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng Việt Nam nên theo đuổi xu hướng chung nhưng cần lượng sức và duy trì sự cân bằng thực tế, thay vì đặt ra những mục tiêu quá lớn và tốn kém.
Ông dẫn bài học từ Mỹ và châu Âu khi các khu vực này đang điều chỉnh, kéo lùi lộ trình xe điện và mục tiêu xanh thêm 5 năm do nhận thấy việc thúc đẩy chuyển đổi quá nhanh có thể gây mất cân bằng nghiêm trọng cho nền kinh tế.
Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, là nước đi sau, Việt Nam nên để các quốc gia tiên phong đi trước và gánh chi phí thử nghiệm ban đầu. Trong khi đó, Việt Nam cần tập trung nguồn lực cho cải cách thể chế, nâng cấp hệ thống tri thức, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao.
Đây là những nền tảng quan trọng để Việt Nam tích lũy giá trị thực, từng bước nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thịnh vượng vào năm 2045.