SEPA/VCP của Mark Minervini: Khi lựa chọn cổ phiếu quan trọng hơn dự báo VN-Index
Trong thị trường thanh khoản suy giảm và cổ phiếu phân hóa, SEPA/VCP tập trung nhận diện mã dẫn dắt, xác định điểm mua và giới hạn rủi ro trước khi giải ngân.
Dòng tiền thu hẹp, hiệu suất cổ phiếu phân hóa
VN-Index kết thúc phiên 17/7 tại 1.787,5 điểm, giảm 16,8 điểm (-0,9%); tính chung cả tuần, chỉ số mất 40,9 điểm (-2,2%). Độ rộng thị trường nghiêng về phía giảm khi HoSE ghi nhận 91 mã tăng, 212 mã giảm và 55 mã đứng giá. Rổ VN30 chỉ có 5 mã tăng, trong khi 23 mã giảm. Giá trị khớp lệnh giảm 40,6% so với phiên trước, còn 10.500 tỷ đồng; khối ngoại bán ròng gần 681 tỷ đồng.
Dòng tiền đã thu hẹp từ trước phiên cuối tuần. Trong tháng 6, VN-Index gần như đi ngang (-0,2%) sau khi tăng 11,1% trong quý II, nhưng chỉ 4/11 ngành duy trì đà tăng. Tổng giá trị khớp lệnh trên HoSE đạt 303.000 tỷ đồng, giảm 25,9% so với tháng trước và 49,2% so với tháng 3. Khối ngoại bán ròng 15.300 tỷ đồng trong tháng, nâng lũy kế bán ròng nửa đầu năm lên 79.800 tỷ đồng.
Sự phân hóa còn thể hiện qua khoảng cách giữa định giá của VN-Index và phần lớn cổ phiếu. Chỉ số giao dịch quanh P/E dự phóng 13 lần, trong khi lợi nhuận được kỳ vọng tăng khoảng 15%. Tuy nhiên, hơn 70% số cổ phiếu trên thị trường có P/E dưới 10 lần. Nhóm cổ phiếu liên quan Vingroup chiếm gần 30% vốn hóa chỉ số, còn phần thị trường không tính nhóm này giao dịch quanh P/E 10 lần với EPS dự kiến tăng 16%.
Lợi nhuận của các doanh nghiệp trong VN-Index tăng 51% trong quý I; nếu loại VHM, mức tăng còn khoảng 30%. Khoảng cách giữa tăng trưởng lợi nhuận, định giá và diễn biến giá cho thấy chỉ số chưa phản ánh đồng đều trạng thái của từng cổ phiếu. Việc giải ngân chủ yếu dựa vào dự báo VN-Index hoặc mức giảm từ đỉnh có thể bỏ qua khác biệt về chất lượng tăng trưởng, sức mạnh giá, thanh khoản và khả năng thu hút dòng tiền.
Trong bối cảnh đó, SEPA/VCP của Mark Minervini chuyển trọng tâm từ dự báo chỉ số sang lựa chọn cổ phiếu. Phương pháp ưu tiên những mã duy trì sức mạnh tương đối, đồng thời xác định điểm mua tại vị trí có thể giới hạn rủi ro từ trước. Mục tiêu không nằm ở việc tìm chính xác đáy thị trường, mà ở khả năng nhận diện cổ phiếu đủ điều kiện dẫn dắt khi dòng tiền chưa lan tỏa rộng.
SEPA sàng lọc cổ phiếu, VCP xác định điểm mua
Mark Minervini là nhà giao dịch cổ phiếu người Mỹ, người sáng lập Minervini Private Access và tác giả nhiều cuốn sách về giao dịch theo xu hướng. Ông đứng đầu Giải vô địch Đầu tư Hoa Kỳ năm 1997 với mức sinh lời 155%. Năm 2021, Minervini tiếp tục dẫn đầu hạng mục tài khoản cổ phiếu từ 1 triệu USD với hiệu suất 334,8%, vượt kỷ lục 119,1% trước đó và đứng đầu trong số 338 người tham dự.

Minervini phát triển SEPA (Phân tích điểm mua cụ thể) nhằm xác định cổ phiếu phù hợp, vị trí mở vị thế và thời điểm rời khỏi giao dịch khi diễn biến giá không còn đáp ứng nhận định ban đầu. Phương pháp kết hợp tăng trưởng doanh nghiệp, xu hướng giá, sức mạnh tương đối, quan hệ cung – cầu và quản trị rủi ro. SEPA không xem P/E hoặc P/B thấp là điều kiện đủ để giải ngân, bởi định giá thấp có thể đi cùng lợi nhuận đã đạt đỉnh, triển vọng kinh doanh suy yếu hoặc dòng tiền chưa quay trở lại.
Ở chiều ngược lại, một cổ phiếu có định giá cao hơn mức bình quân vẫn có thể đáp ứng tiêu chí nếu doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), biên lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn cùng cải thiện. Diễn biến giá giữ vai trò xác nhận những thay đổi trong hoạt động kinh doanh. Một doanh nghiệp có kết quả phục hồi nhưng cổ phiếu vẫn liên tục tạo đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn chưa đáp ứng yêu cầu của SEPA.
Bộ lọc xu hướng yêu cầu giá đứng trên các đường trung bình 50, 150 và 200 phiên (MA50, MA150 và MA200). MA50 phải cao hơn MA150 và MA200; MA150 nằm trên MA200; MA200 duy trì hướng đi lên ít nhất 1 tháng. Giá cổ phiếu đồng thời phải cao hơn đáy 52 tuần tối thiểu 30%, nằm trong phạm vi không quá 25% dưới đỉnh 52 tuần và đạt xếp hạng sức mạnh tương đối từ 70 trở lên.
Những điều kiện này thu hẹp phạm vi theo dõi vào các cổ phiếu đã rời vùng suy yếu và có diễn biến tích cực hơn thị trường chung. SEPA vì vậy không tìm kiếm cổ phiếu chỉ vì đã giảm sâu, mà ưu tiên những doanh nghiệp có nền tảng cải thiện đúng thời điểm giá bắt đầu xác lập xu hướng. Sức mạnh giá và kết quả kinh doanh phải cùng hỗ trợ cho luận điểm đầu tư.
Sau bước sàng lọc, VCP (mẫu hình co hẹp biến động) hỗ trợ xác định thời điểm mua. Cổ phiếu thường trải qua một nhịp điều chỉnh có biên độ tương đối lớn, sau đó hình thành các nhịp giảm nông dần. Biên độ giá và khối lượng giao dịch cùng thu hẹp khi cổ phiếu tiến gần vùng kháng cự.
Quá trình này phản ánh lượng cổ phiếu sẵn sàng bán giảm dần sau mỗi nhịp điều chỉnh, trong khi lực cầu vẫn duy trì nền giá. Điểm mua thường nằm ngay phía trên vùng kháng cự cuối cùng, trước khi giá tăng quá xa khỏi vùng tích lũy. Vị trí đó tạo điều kiện xác định khoảng cách tới mốc cắt lỗ và mức thiệt hại có thể phát sinh nếu cú vượt nền thất bại.
Thanh khoản và chất lượng lợi nhuận quyết định độ tin cậy
VCP không đồng nghĩa mọi cổ phiếu đi ngang đều hình thành điểm mua. Một mã có thanh khoản thấp có thể xuất hiện biên độ hẹp do thiếu giao dịch, thay vì do dòng tiền hấp thụ nguồn cung. Tín hiệu vượt kháng cự cũng giảm độ tin cậy nếu giá trị giao dịch nhỏ, khối lượng không cải thiện hoặc tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp.
Khi áp dụng tại Việt Nam, SEPA/VCP gắn với giá trị giao dịch bình quân, khả năng thoát vị thế và mức độ tham gia thực chất của dòng tiền. Một đồ thị có biên độ co hẹp nhưng thanh khoản quá thấp có thể không đáp ứng yêu cầu về khả năng mở và đóng vị thế, đặc biệt với danh mục có quy mô lớn. Vì vậy, chất lượng của mẫu hình không thể tách rời khả năng giao dịch thực tế.
Chất lượng lợi nhuận cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì xu hướng giá. Lợi nhuận tăng nhờ bán tài sản, hoàn nhập dự phòng hoặc đánh giá lại khoản đầu tư có thể tạo mức tăng đột biến trong 1 kỳ, nhưng chưa phản ánh sự cải thiện của hoạt động kinh doanh cốt lõi. Doanh thu, EPS, biên lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn được xem xét cùng nguồn hình thành lợi nhuận.
Vị trí mua quyết định tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng trên rủi ro. Điểm mua nằm gần vùng giá khiến mẫu hình mất hiệu lực giúp giới hạn khoảng cách tới mốc cắt lỗ. Khi giá đã tăng xa khỏi nền tích lũy, dư địa tăng thu hẹp trong khi mức thiệt hại tiềm năng mở rộng, qua đó làm giảm chất lượng của giao dịch.
SEPA không sử dụng bình quân giá xuống để duy trì một nhận định đã bị diễn biến giá phủ nhận. Khi cổ phiếu phá vỡ cấu trúc, vị thế được thu hẹp hoặc đóng lại nhằm giới hạn thiệt hại. Nếu nhiều cổ phiếu vượt nền nhưng nhanh chóng quay về vùng tích lũy, quy mô các vị thế mở mới được điều chỉnh theo kết quả thực tế của những giao dịch trước đó.
Trong điều kiện thanh khoản suy giảm và dòng tiền phân hóa, SEPA/VCP thu hẹp phạm vi theo dõi vào những cổ phiếu đồng thời đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng doanh nghiệp, sức mạnh tương đối, thanh khoản và vị trí mua. Tỷ trọng tiền mặt được duy trì khi thị trường chưa xuất hiện đủ cổ phiếu đạt tiêu chí hoặc khi các điểm mua mới liên tục thất bại. Kiểm soát rủi ro vì thế được đặt song song với quá trình tìm kiếm cổ phiếu dẫn dắt.