TS Nguyễn Đức Kiên: Thuế đất bỏ hoang 0,2% chưa đủ sức khiến người ôm đất chùn tay
Cho rằng mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng vẫn còn thấp, TS. Nguyễn Đức Kiên đề xuất cần tăng mạnh hơn để buộc người giữ đất phải đưa đất vào khai thác hoặc chuyển nhượng cho người có năng lực triển khai.
Ngày 23/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình Quốc hội dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân. Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất áp dụng thuế suất 0,2%, không áp dụng hạn mức, đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.
Quy định này nhằm thúc đẩy việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng găm giữ đất đai trong khi nguồn lực đất đai chưa được khai thác tương xứng với nhu cầu phát triển.
Chia sẻ với báo chí bên lề hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức, TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng mức thuế suất được đề xuất vẫn chưa đủ mạnh để tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong hành vi của những người giữ đất chờ tăng giá.

Đất tăng giá nhờ hạ tầng, không thể chỉ người ôm đất hưởng lợi
Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, thuế đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng cần được nâng lên đáng kể để tạo ra sự khác biệt về lợi ích giữa người sử dụng đất thực chất và người chỉ giữ đất để chờ giá tăng rồi bán kiếm lời.
Ông cho rằng giá trị đất đai tăng lên phần lớn có sự đóng góp từ đầu tư hạ tầng, quy hoạch và các chính sách phát triển của Nhà nước. Vì vậy, phần chênh lệch địa tô do các yếu tố này tạo ra không thể mặc nhiên trở thành lợi ích của những người giữ đất nhưng không đưa đất vào sử dụng.
Từ góc nhìn đó, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng không nên quá lo ngại trước phản ứng của những nhà đầu tư đang ôm đất chờ thời. Nếu không có nhu cầu hoặc không đủ năng lực triển khai dự án, họ cần chuyển nhượng hoặc trả lại đất để những chủ thể có khả năng khai thác hiệu quả hơn tiếp nhận.
Theo ông, thuế cần đủ cao để người giữ đất phải cân nhắc giữa hai lựa chọn: đưa đất vào sử dụng, tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị cho xã hội; hoặc chuyển nhượng cho người có khả năng triển khai dự án.
“Không thể để những khu đất bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm trong khi xã hội có nhu cầu phát triển dự án, xây dựng hạ tầng và cung cấp dịch vụ”, ông nhấn mạnh.
Quan điểm này đặt trọng tâm vào hiệu quả sử dụng đất thay vì chỉ xem đất đai là tài sản để tích trữ. Khi một khu đất không được khai thác trong thời gian dài, nguồn lực dành cho sản xuất, kinh doanh và phát triển đô thị cũng bị đình trệ. Bởi vậy, bên cạnh quyền sử dụng đất hợp pháp của nhà đầu tư, cần có cơ chế đủ sức thúc đẩy đất đai được đưa vào khai thác đúng mục đích và tiến độ.

Không chỉ tăng thuế, phải xử lý nghiêm dự án chậm triển khai
Bên cạnh công cụ thuế, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng cần thực hiện nghiêm các quy định về thu hồi đất đối với những dự án chậm triển khai.
Theo quy định của Luật Đất đai được ông đề cập, trường hợp đất được giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư nhưng không được sử dụng trong 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa, hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án, có thể được gia hạn sử dụng không quá 24 tháng và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính bổ sung theo quy định. Hết thời gian gia hạn mà vẫn không đưa đất vào sử dụng, Nhà nước có thể thu hồi đất theo quy định pháp luật.
Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn trách nhiệm tài chính với cam kết đầu tư và tiến độ sử dụng đất. Nhà đầu tư không thể chỉ giữ đất để chờ tăng giá mà phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, đồng thời chịu trách nhiệm về tiến độ triển khai dự án.
Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, mục tiêu cuối cùng là chấm dứt tình trạng đầu cơ, găm giữ đất đai mà không tạo ra giá trị. Đất đai cần được đưa vào phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu phát triển của xã hội, thay vì trở thành công cụ để một số người chờ đợi lợi nhuận từ việc tăng giá.

Trao quyền chủ động định giá nhà ở xã hội nhưng phải minh bạch
Cũng liên quan đến việc sửa đổi các chính sách về đất đai và bất động sản, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng việc sửa đổi đồng bộ Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản cần hướng tới đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện để các dự án nhà ở xã hội sớm được triển khai và sản phẩm nhanh chóng đưa ra thị trường.
Theo ông, Nhà nước đã dành nhiều chính sách ưu đãi cho nhà ở xã hội, từ đất đai đến thuế. Vì vậy, cần xem xét trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp trong việc xác định giá bán, trên cơ sở các ưu đãi được hưởng và những quy định pháp luật có liên quan.
Cách tiếp cận này có thể giảm bớt những thủ tục không cần thiết, đồng thời tăng tính chủ động của doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và kinh doanh. Tuy nhiên, trao quyền chủ động về giá không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tự do định giá mà không có giới hạn giám sát.
TS. Nguyễn Đức Kiên lưu ý, nếu giá bán bị đẩy lên quá cao so với chất lượng sản phẩm, chi phí đầu tư và khả năng chi trả của người mua, cơ quan chức năng cần có cơ chế kiểm tra, kiểm toán để làm rõ chi phí và hiệu quả đầu tư, bảo đảm các chính sách ưu đãi của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích.
Ở góc độ thị trường, doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm về quyết định kinh doanh của mình. Nếu mức giá không hợp lý, sản phẩm sẽ khó tiếp cận người mua, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ.
Theo ông, điều cần hướng tới là cơ chế minh bạch, trong đó Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, giám sát, còn doanh nghiệp được chủ động hơn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh. Qua đó, nguồn cung nhà ở xã hội có thể được cải thiện mà vẫn bảo đảm mục tiêu hỗ trợ những người thực sự có nhu cầu nhà ở.