Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam mới đạt 9,5%, thấp xa mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD: Dư địa tăng trưởng còn rất lớn
Việt Nam mới đạt 9,5% xuất khẩu dịch vụ, thấp xa mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD, cho thấy dư địa tăng trưởng còn rất lớn.
Năng suất thấp là “nút thắt” lớn
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng điểm nghẽn cốt lõi của nền kinh tế nằm ở năng suất.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam vẫn thấp so với nhiều quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng vốn công nghệ thông tin và chất lượng lao động cũng chưa đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế muốn tiến nhanh lên nấc thang thu nhập cao.
Đáng chú ý, để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng chất lượng lao động của Việt Nam phải cao gấp 4 lần hiện nay, trong khi đầu tư vào vốn công nghệ thông tin cần tăng gấp 5 lần.
Nếu lấy Hàn Quốc làm tham chiếu, tăng trưởng TFP của Việt Nam phải đạt ít nhất khoảng 2% mỗi năm. Đây là thách thức không nhỏ khi những động lực tăng năng suất từ chuyển đổi cơ cấu đang dần suy giảm.
Một nghịch lý khác được chỉ ra là xuất khẩu của Việt Nam đã tăng mạnh trong hai thập niên qua, nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước vẫn còn thấp.
Trong giai đoạn 2010-2023, giá trị gia tăng của các ngành có thể giao thương chỉ tăng khoảng 5,4%/năm, thấp hơn mức 6,6% của các ngành không thể giao thương.
Đáng chú ý, việc làm trong các ngành có thể giao thương giảm 1,4%/năm, trong khi khu vực không thể giao thương lại tăng 2,6%/năm.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, những con số này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam giữ lại được nhiều giá trị hơn.
Một điểm nghẽn quan trọng khác nằm ở mối liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Các mặt hàng xuất khẩu công nghệ thuộc nhóm “quán quân mới nổi” tăng nhanh, nhưng phần lớn giá trị lại nằm trong khu vực FDI. Trong khi đó, tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước có xu hướng giảm.
Điều này cho thấy hiệu ứng lan tỏa và chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI sang doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tương xứng với quy mô đóng góp của khu vực này.

Từ mô hình “1i” sang “3i”
Từ những điểm nghẽn trên, nhóm nghiên cứu đưa ra hai kịch bản cho Việt Nam. Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng hiện tại, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao. Ngược lại, nếu thực hiện cải cách mạnh mẽ, đưa các nghị quyết vào cuộc sống và xử lý đúng những điểm nghẽn về năng suất, công nghệ, nhân lực và doanh nghiệp nội địa, Việt Nam có khả năng đạt mục tiêu thu nhập cao trong khoảng năm 2045-2047.
Trong kịch bản cải cách, tăng trưởng TFP cần được nâng từ khoảng 0,2% lên mức trung bình 2%/năm.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, đây không đơn thuần là câu chuyện tăng thêm vốn đầu tư mà phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng.
Cốt lõi là chuyển từ mô hình “1i”, tức tăng trưởng thuần dựa vào đầu tư, sang mô hình “3i” gồm Investment, Infusion và Innovation - đầu tư, lan tỏa công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ba trụ cột cần được tập trung gồm nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài; đồng thời đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những nấc thang có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thu hút FDI thế hệ mới vì vậy không chỉ dừng ở việc tăng quy mô vốn đăng ký, mà phải gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ và tạo cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
“Mỏ” xuất khẩu dịch vụ còn rất rộng
Một dư địa tăng trưởng đáng chú ý khác là xuất khẩu dịch vụ. Theo nghiên cứu, tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam mới đạt 9,5%, thấp hơn đáng kể so với mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD.
Khoảng cách này cho thấy Việt Nam vẫn còn dư địa rất lớn để phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, qua đó đa dạng hóa động lực xuất khẩu và giảm sự phụ thuộc vào các ngành sản xuất hàng hóa.
Nếu tận dụng tốt lợi thế về nguồn nhân lực, công nghệ và quá trình chuyển đổi số, khu vực dịch vụ có thể trở thành một động lực quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới.
Thay vì chỉ cạnh tranh bằng chi phí lao động và mở rộng sản lượng, Việt Nam cần từng bước chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng nhân lực, năng lực công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao không chỉ được đo bằng tốc độ tăng GDP hay thu nhập bình quân đầu người. Mô hình phát triển mới phải bảo đảm tính cân bằng và bao trùm, để thành quả tăng trưởng được phân bổ rộng hơn giữa các khu vực và nhóm dân cư.
Một hướng được nghiên cứu đề cập là tạo điều kiện để người lao động có thể trở về nông thôn sinh sống và làm việc thông qua mô hình “di cư ngược”.
Cùng với đó, Việt Nam cần chuẩn bị cho giai đoạn dân số già, dự kiến bước vào giai đoạn già hóa sâu hơn từ năm 2036, trong đó “kinh tế bạc” có thể trở thành một không gian phát triển mới.