Vì sao Trung Quốc ngày càng 'khắt khe' với nông sản Việt?
Trung Quốc không còn là thị trường “dễ tính” hay chuộng hàng tiểu ngạch như quan niệm trước đây.

Tại Diễn đàn Xúc tiến Thương mại, Đầu tư và Du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 diễn ra ngày 18-19/9 tại Cần Thơ, các đại biểu cho rằng nông sản ĐBSCL cần chuyển từ lợi thế sản lượng sang chất lượng và tổ chức chuỗi.
Diễn đàn có chủ đề phát huy vai trò trung tâm ĐBSCL trong liên kết chuỗi cung ứng thông minh, thúc đẩy thương mại xanh và kiến tạo động lực tăng trưởng mới, dự kiến quy tụ hơn 300 doanh nghiệp hai nước.
Phó giám đốc Sở Công Thương TP Cần Thơ Hứa Trường Sơn cho biết thành phố muốn kết nối doanh nghiệp, nhà nhập khẩu và nhà phân phối Trung Quốc với doanh nghiệp Cần Thơ, nhất là các nhóm nông sản, trái cây, gạo và sản phẩm từ gạo, thủy sản, thực phẩm chế biến.
Thành phố cũng mong muốn thu hút đầu tư vào logistics, trung tâm phân phối, chế biến sâu nông sản - thủy sản, thương mại điện tử, chuyển đổi số và công nghệ xanh.
Khắt khe với nông sản Việt
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ số một của ngành rau quả Việt Nam, chiếm 65-70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.
Theo ông Nguyên, Trung Quốc không còn là thị trường “dễ tính” hay chuộng hàng tiểu ngạch như quan niệm trước đây. Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ, cùng với những tiêu chuẩn cao hơn về phát triển xanh và giảm phát thải carbon.
Người tiêu dùng tại nhiều đô thị Trung Quốc ngày càng quan tâm đến sản phẩm hữu cơ, canh tác sinh thái, chứng nhận chất lượng và khả năng truy xuất tới từng công đoạn thu hoạch, đóng gói. Các nhà nhập khẩu lớn cũng bắt đầu ưu tiên nhà cung cấp có logistics xanh, giảm dấu chân carbon và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường.

Trước những thay đổi này, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất hình thành “bản đồ sản xuất xanh”, tổ chức vùng trồng chuyên canh theo tín hiệu thị trường, số hóa quản lý mã số vùng trồng và kiểm soát quy trình sản xuất nhằm hạn chế gian lận xuất xứ, bảo vệ uy tín nông sản.
Giảm phụ thuộc hàng tươi
Theo tài liệu tại diễn đàn, rau quả tươi hiện chiếm trên 70% cơ cấu xuất khẩu, trong khi tỷ lệ chế biến sâu khoảng 30%.
Việc phụ thuộc lớn vào hàng tươi khiến nông sản dễ chịu tác động khi thời tiết, dịch bệnh hoặc thời gian thông quan tại cửa khẩu biến động. Do đó, giải pháp được đặt ra là tăng đầu tư chế biến sâu ngay tại vùng nguyên liệu.
Các doanh nghiệp có thể mở rộng sang trái cây cấp đông, sấy thăng hoa, nước ép cô đặc, sản phẩm dinh dưỡng và tinh dầu từ phụ phẩm nông nghiệp, qua đó nâng giá trị sản phẩm và giảm áp lực tiêu thụ trong chính vụ.
Logistics cũng là mắt xích được đặt ra tại diễn đàn. Tài liệu đề xuất đầu tư hệ thống kho lạnh trung chuyển tại Cần Thơ, tăng kết nối bằng đường bộ, đường biển, đường sắt và hàng không nhằm giảm chi phí và rủi ro cho hàng hóa.
Ở góc nhìn rộng hơn, ông Hồ Quang Minh, Chủ tịch Hội Net Zero Việt Nam - châu Á HCM SME, nhận định lợi thế về vùng nguyên liệu và sản lượng không còn là điều kiện duy nhất. Thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, công nghệ, logistics, môi trường và phát triển bền vững.