Doanh nghiệp nhỏ đứng ngoài "bữa tiệc" 828.000 tỷ đồng tín dụng xanh
Mặc dù dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm gần đây, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa thực sự tiếp cận được nguồn vốn này. Đây là nhận định được TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), đưa ra tại hội thảo "Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh" diễn ra ngày 23/6.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến hết quý I/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 828.000 tỷ đồng, gấp 4,6 lần so với năm 2017 - thời điểm bắt đầu triển khai tín dụng xanh. Tuy nhiên, quy mô này mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dòng vốn hiện chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản với tỷ trọng hơn 32%, trong khi năng lượng xanh chiếm trên 30%.

Từ thực tế trên, TS. Bùi Thanh Minh cho rằng phần lớn tín dụng xanh đang chảy vào các dự án quy mô lớn, có mô hình hoạt động rõ ràng, tài sản bảo đảm đầy đủ và đáp ứng được các yêu cầu thẩm định của ngân hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa - khu vực có các khoản đầu tư nhỏ, phân tán và khó chuẩn hóa - vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn.
Theo đại diện Ban IV, đây là một nghịch lý bởi phần lớn phát thải, lãng phí năng lượng và rủi ro môi trường lại đang nằm rải rác trong hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ, nhà cung ứng và các mắt xích nhỏ trong chuỗi giá trị.
"Nếu chính sách tài chính xanh chỉ phù hợp với doanh nghiệp lớn, quá trình chuyển đổi xanh sẽ thiếu tính bao trùm", TS. Bùi Thanh Minh nhận định. Ông cảnh báo doanh nghiệp nhỏ đang phải đối mặt với rủi ro kép khi vừa khó tiếp cận vốn để chuyển đổi, vừa có nguy cơ mất thị trường nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe từ đối tác và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng 80% trong số này chưa từng có lịch sử tiếp cận tín dụng. Điều đó đồng nghĩa với việc ngay cả tín dụng thông thường cũng là rào cản lớn, chưa nói đến tín dụng xanh với hàng loạt yêu cầu đặc thù liên quan đến dữ liệu, quy trình quản trị, tiêu chuẩn môi trường và báo cáo phát triển bền vững.
Ở góc độ tổ chức tín dụng, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank, cho biết ngân hàng hiện có khoảng 28.000 tỷ đồng dư nợ tín dụng xanh, trong đó hơn một nửa tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp nhiều vướng mắc.
Theo ông Ngọc, phần lớn khách hàng chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, năng lực xây dựng báo cáo ESG còn hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm. Trong khi đó, các dự án xanh thường cần nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất thấp, tạo áp lực lớn lên công tác cân đối nguồn vốn của ngân hàng.
TS. Bùi Thanh Minh dẫn trường hợp một doanh nghiệp nuôi biển tại Quảng Ninh có mô hình sản xuất hiệu quả nhưng không thể tiếp cận vốn xanh do thiếu tài sản bảo đảm. Từ thực tế này, ông đề xuất cần xây dựng bộ tiêu chí và quy trình xác nhận dự án xanh đơn giản hơn cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì áp dụng chung một bộ hồ sơ với các doanh nghiệp quy mô lớn.
Bên cạnh đó, ông cho rằng chính sách cần chuyển từ tư duy "cho vay xanh" sang "giúp doanh nghiệp đủ điều kiện vay xanh". Theo đó, Nhà nước cần đóng vai trò "bà đỡ" thông qua các cơ chế hỗ trợ tài chính như cấp bù lãi suất khoảng 2% cho các dự án xanh, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm thúc đẩy chuyển đổi xanh lên vai các ngân hàng thương mại.
Ngoài hỗ trợ tài chính, đại diện Ban IV nhấn mạnh sự cần thiết của một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh gắn với chuyển đổi số. Ông đề xuất xây dựng một nền tảng dữ liệu tập trung, số hóa các thông tin liên quan đến phát thải, tiêu thụ điện, nước và các chỉ số môi trường của doanh nghiệp, đồng thời kết nối trực tiếp với hệ thống ngân hàng.
Khi có nguồn dữ liệu đầy đủ, minh bạch và được chuẩn hóa, các tổ chức tín dụng sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá rủi ro và thẩm định dự án, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn xanh cho doanh nghiệp.
Các chuyên gia tham dự hội thảo cũng cho rằng thị trường tín chỉ carbon cần sớm vận hành hiệu quả. Đây sẽ là nguồn tài chính bổ sung quan trọng, giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực để tái đầu tư và thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh trong dài hạn.
