Chuyên gia cảnh báo 'miếng bánh' tốt nhất của đường sắt tốc độ cao dễ rơi trọn vào tay doanh nghiệp ngoại
Các dự án đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang mở ra thị trường thiết bị, vật liệu và cơ khí chế tạo trị giá hàng chục tỷ USD.
Phát biểu tại hội thảo "Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức ngày 15/6, PGS.TS Nguyễn Chỉ Sáng cho biết Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng giao thông, năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo, với tổng nhu cầu vốn đến năm 2045 ước khoảng 1.000 tỷ USD.

Trong đó, các dự án đường sắt, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao, được đánh giá có sức lan tỏa rất lớn đối với ngành luyện kim, vật liệu và cơ khí chế tạo. Những dự án này sẽ tạo ra nhu cầu khổng lồ đối với thép chất lượng cao, kết cấu thép chuyên dụng, đầu máy, toa xe, hệ thống tín hiệu, điện khí hóa, điều khiển tự động và nhiều thiết bị công nghệ cao khác.
Tuy nhiên, theo ông Sáng, năng lực của ngành cơ khí trong nước hiện vẫn chủ yếu tập trung ở các khâu gia công và lắp ráp. Khả năng thiết kế tổng thể, làm chủ công nghệ lõi và chế tạo các thiết bị công nghệ cao còn hạn chế, khiến nhiều dự án quy mô lớn vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhà thầu ngoại.
"Chúng ta đang đối mặt với nguy cơ giá trị gia tăng lớn nhất của các dự án tiếp tục nằm ngoài nền kinh tế nếu không làm chủ được vật liệu và công nghệ chế tạo", ông Sáng cảnh báo.
Theo Chủ tịch VAMI, việc phụ thuộc vào nhập khẩu vật liệu và thiết bị không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư mà còn khiến Việt Nam bị động trong vận hành, bảo trì và nâng cấp hệ thống sau này. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự chủ trong các dự án hạ tầng chiến lược.
"Phát triển công nghiệp vật liệu và cơ khí trong nước phải được xem là điều kiện tiên quyết để làm chủ các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia", ông nhấn mạnh.
Đại diện Tập đoàn Hòa Phát cũng cho rằng dù Việt Nam đã xây dựng được ngành thép quy mô lớn, phần lớn sản lượng hiện nay vẫn là thép xây dựng và các sản phẩm phổ thông. Trong khi đó, những dòng thép chất lượng cao phục vụ công nghiệp chế tạo, đặc biệt là thép ray cho đường sắt tốc độ cao, vẫn chưa được sản xuất ở quy mô tương xứng với nhu cầu tương lai.
Theo các chuyên gia, ray đường sắt tốc độ cao là sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật rất khắt khe về độ bền, khả năng chịu tải, chống mài mòn và tuổi thọ khai thác. Việc làm chủ công nghệ sản xuất loại thép này không chỉ phục vụ ngành đường sắt mà còn phản ánh trình độ phát triển của toàn bộ ngành luyện kim và cơ khí chế tạo Việt Nam.
Để tận dụng cơ hội từ các dự án đường sắt quy mô lớn, PGS.TS Nguyễn Chỉ Sáng cho rằng Việt Nam cần xây dựng các doanh nghiệp đầu đàn trong lĩnh vực vật liệu chiến lược, luyện kim, cơ khí chính xác và thiết bị đường sắt.
Ông nhận định nếu có chính sách phù hợp, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển năng lực sản xuất thép chất lượng cao, kết cấu thép, thiết bị điện, hệ thống điều khiển và nhiều sản phẩm cơ khí công nghệ cao khác. Đây sẽ là nền tảng để hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới, thay vì chỉ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu với vai trò gia công hoặc nhà thầu phụ.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến cũng đề xuất Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu cơ chế đặc thù cho các sản phẩm cơ khí trọng điểm và vật liệu chiến lược phục vụ các công trình quốc gia. Đồng thời, cần có chính sách ưu tiên sử dụng vật liệu, thiết bị sản xuất trong nước trong các dự án đầu tư công và dự án hạ tầng trọng điểm nhằm tạo thị trường đủ lớn cho doanh nghiệp nội địa đầu tư công nghệ.
Bên cạnh đó, việc thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp vật liệu, cơ khí và công nghệ cũng được xem là giải pháp quan trọng để hình thành chuỗi cung ứng nội địa hoàn chỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo.
Theo PGS.TS Nguyễn Chỉ Sáng, nếu tận dụng tốt cơ hội từ các dự án đường sắt trong tương lai, Việt Nam không chỉ phát triển được ngành công nghiệp đường sắt tự chủ mà còn tạo cú hích cho ngành luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao cùng bứt phá.
"Ngược lại, nếu phần lớn thị trường vật liệu và thiết bị tiếp tục thuộc về các nhà thầu nước ngoài, cơ hội xây dựng một ngành công nghiệp đường sắt tự chủ có thể sẽ bị bỏ lỡ trong nhiều thập niên tới", ông cảnh báo.
