Hòa Phát hé lộ 'nút thắt' lớn nhất khi làm đường sắt tốc độ cao 67 tỷ USD: Chuyên gia lập tức đề xuất cơ chế đặc biệt
Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được kỳ vọng tạo cú hích cho ngành thép và cơ khí Việt Nam. Chuyên gia đề xuất cơ chế đặc thù để tăng nội địa hóa.
Việt Nam đang đứng trước một ngưỡng cửa mang tính bước ngoặt khi đặt mục tiêu xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với vận tốc thiết kế 350 km/h, tổng mức đầu tư ước tính khoảng 67 tỷ USD.
Dự án được đánh giá là cơ hội lớn để nâng tầm ngành vật liệu và cơ khí chế tạo trong nước. Tuy nhiên, để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị và làm chủ công nghệ, nhiều chuyên gia cho rằng cần sớm có cơ chế đặc thù để tạo động lực bứt phá.

Tại hội thảo “Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới” do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức sáng 15/6, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết nhiều chương trình, dự án chiến lược quốc gia đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với ngành công nghiệp vật liệu và cơ khí chế tạo.

Theo bà Nguyễn Thanh Hải, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam không chỉ là dự án giao thông có quy mô lớn nhất trong lịch sử Việt Nam mà còn là cơ hội để nâng cấp năng lực công nghiệp quốc gia. Dự án đòi hỏi nhiều loại vật liệu và thiết bị có yêu cầu kỹ thuật cao như thép ray chất lượng cao, thép cầu đặc chủng, bê tông tính năng cao, vật liệu giảm rung, giảm chấn và hệ thống điện khí hóa.
Từ thực tế đó, câu hỏi được đặt ra là Việt Nam có thể tham gia đến đâu trong chuỗi giá trị của các dự án quy mô lớn này, có thể nội địa hóa những công đoạn nào và cần chuẩn bị những gì để từng bước làm chủ công nghệ.
Đường sắt tốc độ cao mở ra cơ hội nâng tầm ngành thép và cơ khí Việt Nam
Theo PGS.TS Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), Việt Nam đang bước vào giai đoạn triển khai các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng và công nghiệp chế biến chế tạo với tổng nhu cầu đầu tư đến năm 2045 ước tính khoảng 1.000 tỷ USD. Trong số đó, đường sắt tốc độ cao được xem là một trong những dự án có sức lan tỏa lớn nhất đối với công nghiệp vật liệu và cơ khí chế tạo.
Dự án này tạo ra nhu cầu rất lớn đối với thép chất lượng cao, kết cấu thép đặc chủng, đầu máy, toa xe, hệ thống tín hiệu, thiết bị điện khí hóa, hệ thống điều khiển tự động cùng hàng loạt sản phẩm cơ khí công nghệ cao khác.
Tuy nhiên, theo ông Sáng, nhiều năm qua ngành cơ khí Việt Nam vẫn chủ yếu hoạt động ở các khâu gia công và lắp ráp. Năng lực thiết kế tổng thể, thiết kế hệ thống, làm chủ công nghệ lõi và chế tạo thiết bị công nghệ cao còn hạn chế. Điều này khiến nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn vẫn phụ thuộc đáng kể vào các nhà thầu nước ngoài.
Khi không làm chủ được vật liệu và công nghệ chế tạo, doanh nghiệp trong nước khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị, tỷ lệ nội địa hóa thấp và phần lớn giá trị gia tăng nằm ngoài nền kinh tế. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu vật liệu và thiết bị, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ gia tăng chi phí đầu tư, phụ thuộc vào tiến độ cung ứng từ bên ngoài và giảm khả năng chủ động trong vận hành, bảo trì cũng như nâng cấp hệ thống trong tương lai.
“Phát triển công nghiệp vật liệu và cơ khí trong nước phải được xem là điều kiện tiên quyết để làm chủ các dự án hạ tầng chiến lược”, ông Nguyễn Chỉ Sáng nhấn mạnh.

Trong tham luận tại hội thảo, Tập đoàn Hòa Phát cũng chỉ ra thực tế dù Việt Nam đã hình thành ngành thép có quy mô lớn nhưng phần lớn sản lượng hiện nay vẫn tập trung vào thép xây dựng và các sản phẩm phổ thông. Trong khi đó, những dòng thép có yêu cầu kỹ thuật cao phục vụ công nghiệp chế tạo, đặc biệt là thép ray đường sắt tốc độ cao, vẫn chưa được sản xuất ở quy mô tương xứng.
Theo đánh giá của doanh nghiệp, ray đường sắt tốc độ cao không đơn thuần là sản phẩm thép thông thường mà thuộc nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật rất cao về độ bền, khả năng chịu tải, chống mài mòn và tuổi thọ vận hành. Việc làm chủ công nghệ sản xuất thép ray không chỉ có ý nghĩa với riêng ngành đường sắt mà còn phản ánh trình độ phát triển của toàn bộ ngành luyện kim và cơ khí chế tạo Việt Nam.
Chuyên gia đề xuất cơ chế đặc thù để doanh nghiệp nội địa bứt phá
Để giải bài toán nêu trên, nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng cần sớm xây dựng cơ chế chính sách đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước tham gia sâu hơn vào các dự án trọng điểm quốc gia.
PGS.TS Nguyễn Chỉ Sáng đề xuất quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung ứng trong nước đối với các dự án lớn thuộc lĩnh vực đường sắt, năng lượng và quốc phòng.
Ông cũng kiến nghị lựa chọn từ 15-20 doanh nghiệp nòng cốt để giao nhiệm vụ chiến lược trong các lĩnh vực then chốt, đồng thời xây dựng các gói tín dụng dài hạn với lãi suất phù hợp và chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu phát triển, mua công nghệ.
Ở góc độ nghiên cứu, ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí (ARIME), đề xuất Quốc hội ban hành nghị quyết về cơ chế đặc thù, cho phép chỉ định thầu có điều kiện đối với các liên danh trong nước tham gia các dự án siêu trọng điểm nhằm “mua năng lực” thay vì chỉ “mua thiết bị”.
Đồng quan điểm, từ thực tiễn triển khai trong lĩnh vực đường sắt, ông Phan Bội Châu, Trưởng Ban Đường sắt Tập đoàn Hòa Phát, kiến nghị cần sớm ban hành một bộ tiêu chuẩn thống nhất để làm cơ sở định hướng cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai và từng bước tự chủ hóa ngành công nghiệp đường sắt.
Theo các chuyên gia, nếu tận dụng tốt cơ hội từ các dự án đường sắt tốc độ cao, doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển năng lực trong nhiều lĩnh vực từ sản xuất thép chất lượng cao, chế tạo kết cấu thép, thiết bị điện, thiết bị điều khiển đến các sản phẩm cơ khí chính xác. Đây cũng là nền tảng để hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới thay vì chỉ dừng lại ở vai trò gia công hoặc nhà thầu phụ.
Ngược lại, nếu phần lớn thị trường vật liệu và thiết bị tiếp tục thuộc về các nhà thầu nước ngoài, cơ hội hình thành ngành công nghiệp đường sắt tự chủ cũng như nâng tầm ngành luyện kim và cơ khí chế tạo Việt Nam có thể tiếp tục bị bỏ lỡ trong nhiều thập niên tới.
